Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Mở lại hồ sơ Biển Đông.

nguồn: https://www.facebook.com/notes/939752169398459/

1/ Sự hiện diện của Trung Quốc ở khu vực biển Trường Sa.

Khu vực biển thuộc Trường Sa có thể giới hạn từ vĩ tuyến 6° đến vĩ tuyến 12°. Sự hiện diện của TQ tại khu vực biển này bắt đầu từ tháng 3 năm 1988, sau khi chiếm được trên tay của VN một số đá, bãi ngầm như đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (cách nhau 30km thuộc nhóm Sinh Tồn), đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Xu bi (thuộc nhóm Thị Tứ), đá Ga ven (nhóm Ba Bình, Nam Yết)... Trước đó, năm 1956, quân của Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) chiếm đảo Ba Bình (Itu-Aba). Đảo này được nhà cầm quyền bảo hộ Pháp tuyên bố chủ quyền ngày 10 tháng 4 năm 1933 và sáp nhập cùng năm vào tỉnh Bà Rịa. 

Việc chiếm đóng đảo Ba Bình của Đài Loan, cũng như việc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa năm 1974, không đem lại cho TQ chủ quyền lãnh thổ ở các nơi đây vì việc chiếm đóng đi ngược lại các nguyên tắc chiếm hữu được quốc tế qui định : Tại Hoàng Sa TQ chiếm hữu bằng vũ lực trong khi tại Ba Bình thì chiếm một lãnh thổ đã có chủ.
Hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá thuộc Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988 lý ra sẽ không đem lại danh nghĩa chủ quyền cho nước này. Nhưng một số dữ kiện liên quan được tiết lộ gần đây cho thấy, trong chừng mực danh nghĩa chủ quyền của TQ (tại các bãi, đá mới chiếm năm 1988) đã được củng cố.
Theo các nhân chứng (trả lời phỏng vấn RFA 19-10-2011) có tham dự trong « cuộc chiến » thì quân đội VN được lệnh « không được nổ súng bất cứ giá nào ». Theo báo chí trong nước thì đó là « trận hải chiến mà súng nổ chỉ từ một phía ». Một tướng lãnh thuộc QDNDVN vừa mới lên tiếng xác định dữ kiện trên là có thật. Vị này còn cho biết lệnh trên là đến từ Lê Đức Anh.
Đây là một trường hợp đặc biệt về việc chiếm hữu lãnh thổ. Theo luật quốc tế, nếu TQ chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực (như trường hợp Hoàng Sa) thì chủ quyền (vùng lãnh thổ này) sẽ không được nhìn nhận.
Trường hợp các bãi, đá chiếm năm 1988, dĩ nhiên TQ đã sử dụng bạo lực. Vấn đề là phía VN đã không sử dụng quyền « tự vệ chính đáng » (được Hiến chương LHQ qui định) để chống trả lại. Nhà nước VN cũng từ chối mọi thủ tục pháp lý (có sẵn) để tranh đấu chống lại TQ ở thời điểm đó (mặc dầu nhà nước CHXHCNVN có đầy đủ tư cách pháp nhân để thực hiện). Các công hàm phản đối dĩ nhiên không có hiệu lực bảo vệ chủ quyền mạnh mẽ bằng các phương tiện pháp lý.
Sự im lặng đồng thuận của VN (về chủ quyền các bãi, đá) kéo dài từ năm 1990 cho đến nay.
Phải chăng, một cách ám thị, VN đã từ bỏ chủ quyền (tại các bãi, đá đó) cho TQ ?
Các công hàm bảo lưu của VN gởi LHQ, năm 1996, khi TQ thông qua Luật Biển UNCLOS không nói rõ rệt về chủ quyền các bãi, đá đã bị TQ chiếm năm 1988, mà chỉ phản đối về hệ thống đường cơ bản của TQ (đồng thời khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS).
Việc khẳng định chủ quyền một cách « chung chung » như vậy là không đủ. Quần đảo Trường Sa bao gồm một khu vực biển rất lớn, trên hai triệu cây số vuông, có đến hàng ngàn bãi, đá, bãi ngầm, bãi cạn, đá chìm, đá nổi, đảo, cụm đảo… khác nhau. Các cấu trúc địa lý này một số rải rác, số khác tụ lại thành nhóm. Nhà cầm quyền bảo hộ Pháp đã chỉ tuyên bố chủ quyền các cụm đảo Trường Sa, An Bang, Ba Binh (Itu-Aba), Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ chứ không bao gồm tất cả (bãi chìm, bãi nổi, đá chìm, đá nổi rải rác trên biển, cách nhau hàng trăm, hàng ngàn ki lô mét).
Dầu vậy, trên phương diện pháp luật quốc tế, các bãi, đá mà TQ chiếm của VN năm 1988, trên danh nghĩa đã thuộc chủ quyền của VN.
Đá Chữ Thập, trên danh nghĩa (địa lý) thì thuộc nhóm Tizard, bao gồm các đảo Ba Bình, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết… Pháp đã tuyên bố chủ quyền và sáp nhập cụm đảo này vào tỉnh Bà Rịa năm 1933.

Tương tự ở đá Châu Viên thuộc nhóm đảo Trường Sa, đá Xu bi thuộc nhóm Thị Tứ.
Hai đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (còn gọi là đá Huy Gơ) thuộc nhóm Sinh Tồn mà nhóm này không thuộc danh sách các đảo đã được sáp nhập năm 1933. Nhưng theo các tài liệu của VN, trước 1975 cụm đảo này do VNCH chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền.
Theo một phán lệ của quan tòa Max Huber về vụ kiện « quần đảo Palmas » trước Tòa Trọng tài năm 1928, chủ quyền một nhóm đảo tùy thuộc vào đảo chính. Ta có thể hiểu là, trong một nhóm đảo bất kỳ, bao gồm một đảo chính và các đảo phụ thuộc, quốc gia nào có chủ quyền ở đảo chính thì cũng sẽ có chủ quyền ở các đảo phụ thuộc chung quanh.
Nhà nước bảo hộ Pháp đã cẩn trọng tuyên bố chủ quyền không chỉ ở các đảo chính mà còn nhấn mạnh ở các đảo phụ thuộc.
Vì vậy hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá ghi trên là không đem lại chủ quyền cho nước này. Đơn giản vì đã chiếm một lãnh thổ đã có chủ.
Ngoại trừ hành vi từ bỏ chủ quyền của nhà nước CSVN.
Các hành vi có thể ghi nhận là công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và một số hành vi khác, bao gồm thái độ im lặng (đồng thuận ám thị) của nhà nước này trong một thời gian dài. Các « hành vi khác » quan trọng có thể nhắc là lãnh đạo đảng CSVN, ông Lê Khả Phiêu, nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ.
Điều này bảo kê sự hiện diện « chính đáng » của TQ tại vùng biển Trường Sa.
Ngoài VN, phía Phi Luật Tân cũng đã mở cơ hội cho TQ có mặt tại Trường Sa.
Năm 2005, chính phủ Phi đã ký kết song phương với với Trung Quốc thỏa thuận « thăm dò chung – JMSU » tại một vùng biển rộng lớn thuộc Trường Sa, trong đó một phần có chồng lấn với vùng biển và các hải đảo của VN. Vùng biển này bao gồm luôn Reed Bank (tức Bãi Cỏ Rong).
Tuyên bố của Lê Khả Phiêu và việc làm của Phi đã thừa nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại vùng biển liên hệ. Biến một vùng biển « không có tranh chấp » thành vùng biển « có tranh chấp ».
Hiện nay TQ ráo riết xây dựng các bãi, đá dã chiếm của VN.
Trên đá Chữ Thập (tên quốc tế là Fiery Cross Reef, tên TQ là Vĩnh thử tiều (Yongshu Reef). Theo thông tin tiết lộ từ báo chí của phía TQ (Kanwa Defense) dự tính của TQ là sẽ xây dựng tại đây thành một căn cứ quân sự hải quân và không quân, có chiều dài 5.000 mét, rộng 500 mét; phi đạo dài 2.000 mét để có thể tiếp nhận các loại chiến đấu cơ của TQ như SU 30, J 10, J 11…. Căn cứ này (và căn cứ trên đá Châu Viên), trên quan điểm quân sự, có thể ngăn chặn mọi tiếp tế của VN, đến từ bờ hay từ trung tâm Trường Sa, cho các đảo khu vực Trường Sa.
 TQ cũng xây dựng hai căn cứ quan trọng thuộc cụm đảo Sinh Tồn : Gạc Ma và Tư Nghĩa. Hiện nay, đảo chính của cụm đảo Sinh Tồn không phải là đảo Sinh Tồn mà là hai đảo nhân tạo của TQ. Đảo Sinh Tồn (hiện do VN chiếm đóng) đã trở thành đảo “phụ thuộc”.
Chiến thuật “tầm ăn dâu” của TQ, Mỹ gọi là “xắt lát sa la mi”, thực ra chỉ mới bắt đầu ráo riết từ sau khi giàn khoan 981, vào tháng 3 năm 2013. Mọi hành vi của TQ đều được biện hộ vì cái cớ trả đũa vụ Phi đi kiện. Theo họ, Phi đã vi phạm tuyên bố DOC 2002, theo đó phải giữ “nguyên trạng”, không làm rắc rối thêm tình hình. Trong khoảng thời gian chưa tới hai năm, TQ đã bồi đắp các bãi đá, bãi ngầm thành các đảo có tầm vóc quan trọng. Trường hợp tương tự ở các xứ Trung Đông, các đảo nhân tạo phải mất thời gian xây dựng khoảng 10 năm.
Đối diện với một TQ hung hăng, dầu sao thì Phi cũng được Mỹ chống lưng. Hai bên có quan hệ “đồng minh” truyền thống. Còn VN thì nan đề chỉ mới bắt đầu. Dầu vậy, phía VN xem ra vẫn còn rất lạc quan. Họ vẫn tự hào vì đã đánh thắng bốn đế quốc sừng sỏ Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Cộng. Vấn đề là học giả VN không chịu nhắc để lãnh đạo VN không bị « hào quang » chiến thắng làm mù mắt. Đó là, thắng đế quốc nào thì VN lúc đó cũng có liên minh với một cường quốc khác. Từ cây súng đến viên đạn đều do nước ngoài viện trợ. VN chỉ có xương và máu mà thôi.
2/ Cuộc chiến pháp lý :
Sẽ không có « cuộc chiến pháp lý » giữa Phi và TQ như nhiều học giả trong và ngoài nước đã nói. Vụ kiện của Phi về các hành vi và tuyên bố của TQ tại đá Hoàng Nham và một số bãi chìm, bãi cạn ở Trường Sa, đã được Tòa Trọng tài thụ lý nhận đơn, mà điều này sẽ không chắc giải quyết được điều gì.
Ngày 23 tháng giêng năm 2013, Bộ Ngoại giao Phi trao công hàm cho Bắc Kinh, đồng thời thông báo trước dư luận trong ngoài nước, việc Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Hồ sơ kiện của Phi gồm 4.000 trang tài liệu, được Tòa Trọng tài Thường trực (La Hague, Hòa Lan) thụ lý. Tháng 6-2014, Tòa thông báo cho Trung Quốc, nước này có 6 tháng để nộp bản phản biện, thời hạn chót là ngày 15-12-2014. Như đã biết, từ ngày 19 tháng 2 năm 2013, bộ Ngoại giao TQ đã tuyên bố từ chối tham gia vụ kiện, và dĩ nhiên, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa. Một bản Tuyên bố ngày 7-12-2014 đã được phía TQ công bố. Theo đó lập luận của TQ về các lý do không tham gia vụ kiện được trình bày khá rõ rệt.
Những lập luận đáng ghi nhận của TQ là : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).
Thái độ của TQ, không tham gia vụ kiện và không nhìn nhận thẩm quyền của tòa, không cản trở được quá trình thụ lý của Tòa Thường Trực. Nếu không có gì trở ngại, nội vụ sẽ xử vào tháng 7 năm 2015.
Phi yêu cầu Tòa tuyên bố, gồm 10 điều :
  1. Các quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).
  2. Yêu sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.
  3. Các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI UNCLOS.
  4. Các bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xu Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UNCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?
  5. Bãi Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.
  6. Bãi Hoàng Ngam và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.
  7. TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma.
  8. Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.
  9. TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
  10. TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS.
Các điểm, theo tôi, Tòa không có thẩm quyền để tuyên bố là :
Điểm 3 và điểm 4 : về tình trạng pháp lý các cấu tạo địa lý lúc chìm lúc nổi (mà TQ hiện chiếm đóng và xây dựng). Công ước Quốc tế về Biển 1982 không đề cập đến việc các cấu trúc địa lý này có thể chiếm hữu hay không ? Phán lệ (hay án lệ) của CIJ trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn. Tòa nói về việc này như sau:
“luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.
 Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán lệ của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008. Trường hợp tương tự, South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ thấy khi thủy triều thấp. Tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về tình trạng pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án Qatar và Bahreïn. Dầu vậy Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.
Nếu phán quyết của Tòa CIJ ở trên trở thành một “phán lệ”, được áp dụng trong trường hợp các cấu trúc địa lý tương tự ở Trường Sa, thì chủ quyền các cấu trúc (lúc chìm lúc nổi) sẽ phụ thuộc vào các đảo chính. Tức là nước nào có chủ quyền ở đảo chính thì các cấu trúc phụ thuộc cũng sẽ thuộc chủ quyền của quốc gia đó.
Ở điểm này Tòa sẽ không có thẩm quyền phán xét. Đơn giản vì nó liên quan đến vấn đề “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này nằm ngoài thẩm quyền của UNCLOS.
Điểm 5, đá McKennan thuộc nhóm đảo Sinh Tồn, phụ thuộc vào đảo Sinh Tồn. Trong khu vực đảo này TQ đã chiếm hai bãi (đá) Gạc Ma và Tư Nghĩa. Đá Vành Khăn sẽ phụ thuộc vào đá (nổi thường trực) hay đảo nào kế cận trong vòng 12 hải lý. Phía TQ tuyên bố có chủ quyền các đảo TS, theo Tuyên Bố đơn phương năm 1958 về hải phận 12 hải lý.
Ở điểm này Tòa cũng không có thẩm quyền, vì thuộc vấn đề “chủ quyền lãnh thổ”.
Điểm 6 nói về hiệu lực của “đảo” hay  “đá” theo điều 121 UCLOS. Ở đây tranh luận là về lý thuyết luật học nhưng rất dễ sa vào lãnh vực “phân chia ranh giới biển” mà điều này Tòa cũng không có thẩm quyền do bảo lưu của TQ năm 2006.
3/ Hệ quả của “cuộc chiến pháp lý”
Xác suất 40% Tòa tuyên bố không có thẩm quyền là tiên đoán có cơ sở. (Tỉ lệ trên các điểm 3,4,5 và 6).
Nhưng với bấy nhiêu đó phía TQ cũng đã thắng lớn vì các tuyên bố chủ quyền và hành vi hành sử quyền chủ quyền của họ được nhìn nhận và khẳng định.
Nếu Tòa tuyên bố có « thẩm quyền », (chấp thuận tất cả các yêu cầu của Phi), phán quyết của Tòa vẫn không có giá trị ràng buộc đối với TQ. Đơn giản vì phán quyết của Tòa (quốc tế) chỉ có hiệu lực ràng buộc khi hai bên (quốc gia) cùng nhìn nhận thẩm quyền của Tòa.
Dầu vậy, trong chừng mực, phía Phi có thể có được tư thế « chính danh », từ đó có thể vận dụng các biện pháp « phòng vệ chính đáng », đơn phương hay tập thể (bằng cách thiết lập liên minh quân sự với các quốc gia khác). Phi có thể bảo vệ được lợi ích của họ. Tệ lắm thì cũng là trên danh nghĩa. Trong trường hợp này phía TQ vẫn không thua vì các cấu tạo địa lý (mà TQ đã chiếm của VN từ tháng 3 năm 1988) đã được xây dựng thành các đảo nhân tạo kiên cố và vững chắc (so với các đảo và các cấu trúc của VN và Phi).
 TQ đã lợi dụng việc Phi đi kiện để tiến hành việc xây dựng các đảo nhân tại tại các cấu trúc địa lý tại Trường Sa. Vụ giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa VN vào tháng 5 năm ngoái thật ra chỉ là kế « giương đông kích tây » (mà điều này tôi đã cảnh báo). Việc TQ đưa tàu bè hút cát, nạo vét đại dương đến Trường Sa để thực hiện các công trình một cách rầm rộ như thế mà phía VN, cả năm sau, hoàn toàn không có một phản ứng nào. Biến cố giàn khoan 981 có thể đã che mắt mọi người, nhưng không thể che mắt nhà cầm quyền.
Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ sớm được thành lập (theo bản đồ dưới đây). Dĩ nhiên, tất cả các đảo, cấu trúc địa lý trong vùng biển (được bao che bởi vùng ADIZ) phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. TQ không thể lập vùng nhận diện phòng không nếu có một vùng lãnh thổ (nào đó) ở phía dưới còn thuộc về một nước khác.
Các cấu trúc Bãi Chữ Thập, Đá Gạc Ma và đá Tư Nghĩa uy hiếp cụm đảo Sinh Tồn. Khi công cuộc xây dựng hoàn tất, được quân sự hóa, TQ không cần nổ một tiếng súng cũng có thể chiếm hoàn toàn cụm đảo Sinh Tồn (chỉ cần phong tỏa vùng biển). Các đảo khác cũng sẽ lọt vào TQ, dễ dàng như một thủ tục.
 Việc xây dựng đảo nhân tạo không phải là điều mới mẻ. Từ các thế kỷ trước các nước Châu Âu đã xây dựng các cấu tạo địa lý trên biển để biến thành các công sự chiến đấu nhằm bảo vệ bờ biển và lãnh thổ.
 Đối diện với các hành vi của TQ, chỉ có VN là phía bị thiệt hại nhiều nhất. Nhưng cũng chỉ có VN mới có thể phá vỡ thế trận của TQ. Vì chỉ VN mới có danh nghĩa chủ quyền ở các đảo TS. Điều ngạc nhiên là đến nay vẫn không thấy động tĩnh gì đến từ nhà cầm quyền CSVN.
Trên bình diện quốc tế, sự “im lặng” thường trực và lâu dài của VN đã khiến VN đã mất đi danh nghĩa chủ quyền tại các cấu trúc địa lý mà TQ đang bồi đắp.
Có thể các nghi ngại về thủ tục “kế thừa” VNCH và “hòa giải” dân tộc cần thiết để lập hồ sơ pháp lý đã khiến lãnh đạo CSVN chùng bước.



Hình trên: Vùng ADIZ của TQ, giả định của tác giả.
4/ VN cần có thái độ nào ?
Nghe báo chí loan tải, VN đã gởi hồ sơ lên Tòa, trong vụ kiện của Phi, không phải để tham gia vụ kiện mà nhằm bảo vệ (bảo lưu) quyền lợi của VN trong khu vực. Điều này tôi cũng đã cảnh báo từ sau khi Phi tuyên bố đi kiện. Lý do các chủ thể mà Phi đề cập tới hầu hết đều thuộc chủ quyền của VN.
Sự việc TQ ráo riết xây dựng trên các cấu trúc địa lý (chiếm được của VN), bắt đầu khi vụ kiện tháng giêng năm 2013, trong vòng một thời gian ngắn, đã biến các cấu trúc địa lý này thành những đảo nhân tạo. Như vậy chủ ý của TQ là phải hoàn tất việc xây dựng trước ngày Tòa tuyên bố (dự tính tháng 7 năm 2015).
Bước kế tiếp (có thể là hai bước song song) là TQ sẽ tuyên bố vùng “nhận diện phòng không” đồng thời tuyên bố phong tỏa vùng biển chung quanh các đảo Trường Sa. Vấn đề “tự do hàng hải” sẽ không ảnh hưởng vì TQ không có mục đích làm gián đoạn việc này. Các đảo (có người sinh sống) sẽ phải kéo cờ đầu hàng trong một thời gian ngắn vì thiếu nước và lương thực.
Bằng mọi cách TQ sẽ chiếm các đảo trong khu vực ADIZ mà họ đã vạch ra. Vì nếu còn một đảo nào đó thuộc chủ quyền nước khác, vùng ADIZ này sẽ không hiệu lực.
Việc xây dựng các đảo của TQ chắc chắn đã làm VN “chới với” nhưng lãnh đạo (và phần lớn học giả) VN vẫn dường như chưa nhìn thấy viễn ảnh nan giải phía trước. Lãnh đạo CSVN vẫn yên bình tổ chức hội nghị “sắp xếp nhân sự”, khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các nước chỉ trích hành vi của TQ mạnh mẽ nhất là Phi, Nhật và Hoa Kỳ.
Giải pháp tốt nhất (để phá nước cờ thế của TQ) hiện nay của VN là liên minh với Mỹ và tức thời lập hồ sơ đi kiện TQ.
Vì tình thế mới phải có kế sách mới.
Vụ Phi đi kiện TQ không thuyết phục được Tòa. Bởi vì các đảo mà Phi hiện chiếm đóng phần lớn là trái phép. Chỉ có VN mới có tư cách (hơn Phi) để kiện TQ ở Trường Sa.
VN cần phải dứt khoát thay đổi sách lược, dân chủ hóa chế độ để phát triển, giữ nước và tồn tại.
Về pháp lý là một chuyện, nhưng về địa chiến lược là chuyện khác.
Trên quan điểm địa chiến lược, TQ chỉ có thể trở thành “đại quốc” khi các nước chung quanh “yếu”.
Phần lớn các nước ngăn chặn TQ về mặt biển đều là các nước giàu. Mục đích của TQ là làm thế nào cho các nước này ít nhiều lệ thuộc vào TQ. Đã từ lâu TQ là động cơ cho phát triển của cả khu vực (và thế giới). GDP của TQ lên hàng thứ nhì và ngân sách quốc phòng cũng hàng thứ nhì trên thế giới (150 tỉ đô là số công bố. Số thật sự có thể lên gấp đôi).
TQ đã là một “nước lớn”. Các nước “giàu” trong khối ASEAN, hay Đại Hàn, Nhật đã “tương thuộc” một cách sâu sắc về kinh tế với TQ.
VN là một ngoại lệ. Nước này từ đầu thập niên 90 đã ngoan ngoãn nằm trong “quĩ đạo” của TQ. VN tuyên bố là không “liên minh” với nước nào. Điều này rất hợp ý Bắc Kinh. Dĩ nhiên TQ sẽ liên tục “giúp” mọi thứ để giúp cho VN giữ « nguyên trạng ». VN luôn là một nước “yếu” và nghèo đói kinh niên.
Một cái nhìn (địa chiến lược) khác, Mỹ lại không muốn thấy một “đại cường” TQ, đối trọng với Mỹ trong khu vực. Mỹ không thể tái dựng lại “chiến tranh lạnh” nhằm cô lập TQ mà chỉ có thể thiết lập một hàng rào các nước đồng minh để bao vây TQ. Các nước nằm trong “hàng rào” của Mỹ đều là các nước giàu (hay tương đối giàu hơn VN) và mạnh.
VN có vị trí rất “đắc địa”, vì là thanh kiếm dưới yết hầu của TQ. Dĩ nhiên được Mỹ coi trọng.
VN có hai lựa chọn:
Một là không liên minh với ai hết (theo như ý nguyện của Bắc Kinh) như hiện nay. Kết quả là nghèo đói kinh niên, (lãnh thổ mất lần hồi) vì đó là mục đích chiến lược của TQ.
Hai là “liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh (ít ra như Đại Hàn). Vì một VN nghèo đói sẽ không ngăn cản được TQ mà còn là một gánh nặng cho Mỹ.

Lựa chọn nào có lợi cho VN ?

Chỉ có liên minh với Mỹ VN mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của quốc gia mình. Nước này, với một lực lượng luật gia hùng hậu, cũng là nước duy nhất có thể giúp VN trên mặt trận pháp lý.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Giới hạn của sự báng bổ – Kỳ 3: Xúc phạm vô trách nhiệm xã hội và xúc phạm mang mục đích chính đáng

Nam Quỳnh – Năm 1984, Tòa sơ thẩm Paris ban hành lệnh cấm các áp phích quảng cáo phim ‘Ave Maria’ của đạo diễn Jacques Richard. Áp phích này có hình một cô gái trẻ cởi trần quấn khăn quanh hạ bộ đứng giang tay, tay chân cô bị trói vào các nhánh cây thánh giá phía sau lưng.
Các thẩm phán dân luật Pháp khi phán xét các cáo buộc dân sự về xúc phạm mang tính tôn giáo bắt đầu bằng việc tập trung phân tích đánh giá xem nội dung trung tâm và chủ thể của phát ngôn hay biểu hiện có thực sự là xúc phạm mang tính tôn giáo hay không. Khi đã xác định là có sự xúc phạm mang tính tôn giáo rồi thì phải xét đến biện pháp xử lý hợp lý và phù hợp với pháp luật.
Việc này chỉ có thể được làm dựa trên đánh giá mức độ và bản chất của hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo để có thể quyết định hình thức và giới hạn mà tòa án có thể áp đặt lên hành vi, phát ngôn hay biểu hiện xúc phạm đó, cùng những hình phạt và khoản bồi thường kèm theo áp dụng cho bên bị khởi kiện.
Lưu ý: Bài viết có hình ảnh gây tranh cãi về tôn giáo, đề nghị bạn đọc cân nhắc trước khi đọc bài.
Một cảnh trong bộ phim gây tranh cãi ở Pháp
Nam diễn viên Willem Dafoe trong một cảnh trong bộ phim gây tranh cãi ở Pháp năm 1988, “Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus”. Ảnh: cinechronicle.com
Bài viết này nằm trong loạt bài “Giới hạn của sự báng bổ” do luật sư Nam Quỳnh (Anh Quốc) gửi tới Luật Khoa tạp chí. 
Việc đánh giá mức độ và bản chất của hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo có thể được xem là trọng tâm trong hệ thống luật giới hạn quyền tự do ngôn luận và biểu đạt của dân luật Pháp. Công việc này phân chia bản chất và mức độ giữa:
- các hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm vô trách nhiệm xã hội:
- các hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm nhưng với mục đích chính đáng.
Các hành vi của nhóm đầu tiên sẽ phải được giới hạn và chịu sự cấm đoán, trừng phạt tối đa của pháp luật. Nhóm thứ hai sẽ chịu sự giới hạn và cấm đoán ít hơn, hoặc không phải bị giới hạn hay cấm đoán.
Việc đánh giá tiêu chuẩn này buộc các thẩm phán phải tìm hiểu không chỉ nội dung và diễn giải của nội dung, mà còn cả hoàn cảnh và mục đích của hành vi, phát ngôn, biểu hiện đang bị tranh cãi.
Năm 1984, Tòa sơ thẩm Paris ban hành lệnh cấm các áp phích quảng cáo phim ‘Ave Maria’ của đạo diễn Jacques Richard. Áp phích này có hình một cô gái trẻ cởi trần quấn khăn quanh hạ bộ đứng giang tay, tay chân cô bị trói vào các nhánh cây thánh giá phía sau lưng.
Áp phích quảng cáo phim Ave Maria. Ảnh: Wikimedia
Áp phích quảng cáo phim Ave Maria. Ảnh: Wikimedia
Khác biệt lớn nhất giữa áp phích này với áp phích phimQuần Chúng chống lại Larry Flynt nói trên đó là cây thập giá biểu tượng của đạo Thiên Chúa được sử dụng trực tiếp. Sự liên tưởng tới hình ảnh chúa Jesus bị đóng đinh thập giá gần tới mức hiển nhiên chứ không chỉ ở mức gợi ý như áp phích phim Larry Flynt.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris phân tích là việc cho một áp phích với biểu hiện có tính xúc phạm tôn giáo hiển nhiên như thế được trưng bày nơi công cộng khiến cho những người đi ngoài đường ai ai cũng phải nhìn thấy, cấu thành một hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo ngoài mong muốn và về bản chất là vô trách nhiệm xã hội: chỉ đơn thuần là một thứ bị đem ra dí vào mặt công chúng, gây phản cảm với công chúng, đặc biệt xúc phạm những tín đồ Thiên Chúa giáo, chứ không đóng góp gì cho công luận.
Một năm sau, phim ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc’ (Je vous salue Marie) của đạo diễn Jean-Luc Godard bị ba tổ chức Thiên Chúa giáo lớn hợp đồng tác chiến kiện ra tòa đòi cấm chiếu. Nguyên do là vì nội dung phim kể lại câu chuyện ra đời của Jesus trong bối cảnh hiện đại: Thánh Joseph (cha của Chúa Jesus) là một anh tài xế taxi, Đức Mẹ Maria (mẹ của Chúa Jesus) là một nhân viên trạm xăng thích chơi bóng rổ. Đặc biệt, phim có tình tiết Đức Mẹ Maria “khám phá tính dục bản thân” trong nỗ lực tìm kiếm sự hợp nhất tâm hồn và thể xác.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris quyết định không cấm chiếu phim này vì họ cho là bản chất việc sản xuất và trình chiếu bộ phim không phải là một hành động xúc phạm vô trách nhiệm xã hội, vì bộ phim không được chiếu cho công chúng xem mà được trình chiếu trong rạp – khán giả xem phim được giới hạn vào những người sẵn sàng bỏ tiền mua vé và đến rạp xem phim.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris cho là bản thân những người sẵn sàng bỏ tiền mua vé cũng sẵn sàng chấp nhận nội dung những gì họ xem với tất cả những rủi ro kèm theo bao gồm việc nội dung đó có thể gây phản cảm, xúc phạm đức tin của họ. Bản chất việc trình chiếu phim này vì thế khác với việc trưng bày một sản phẩm có mức độ xúc phạm mang tính tôn giáo cao tại nơi công cộng, ở một vị trí khiến nó đập vào mắt cả những ai không hề mong muốn nhìn thấy nó. Những người chọn mua vé đi xem phim phải được quyền tự do chấp nhận rủi ro và tự do tận hưởng sản phẩm văn hóa mà họ đã chọn lựa.
Tòa phúc thẩm đồng ý với Tòa sơ thẩm Paris: nội dung bộ phim mang tính xúc phạm tôn giáo, nhưng hình thức phát tán ra xã hội giới hạn của nó đảm bảo là nó sẽ chỉ ảnh hưởng đến những ai chủ động tìm đến nó. Vì thế, một lệnh cấm chiếu hoàn toàn sẽ áp đặt một giới hạn quá lớn và không tương xứng lên quyền tự do biểu đạt.
Tòa thượng thẩm cũng đồng ý với nhận định của tòa phúc thẩm và vì thế bộ phim tiếp tục được công chiếu tại các rạp chiếu phim.
Năm 1988, bộ phim ‘Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus’ (‘La Dernière Tentation du Christ’ hay ‘The Last Temptation of the Christ’) của đạo diễn Martin Scorsese cũng gặp phải những thách thức pháp lý giống như trên vì phim này có cảnh làm tình giữa hai nhân vật Maria Magdalena và Chúa Jesus. Hình tượng Chúa Jesus được thể hiện trong phim này bị các tín đồ và tổ chức Thiên Chúa giáo xem là quá ‘con người’, quá yếu đuối trước những cám dỗ nhục cảm và trần thế.
Một cảnh trong phim "Cám dỗ cuối cùng của Jesus". Ảnh: listal.com
Một cảnh trong phim “Cám dỗ cuối cùng của Jesus”. Ảnh: listal.com
Các rạp chiếu phim này bị biểu tình, thậm chí đốt phá bởi các tín đồ Thiên Chúa giáo. Nhiều hội đoàn Thiên Chúa giáo có chung ý kiến là việc các nhà làm phim này tái hiện hình ảnh chúa Jesus là hành vi xúc phạm họ dựa trên tôn giáo của họ.
Với cùng những lý do được ba cấp tòa dân sự Pháp đưa ra trong vụ Je vous salue Marie, thẩm phán Tòa sơ thẩm quyết định không cấm chiếu phim ‘Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus’Thẩm phán tòa sơ thẩm chỉ bắt các nhà sản xuất phim phải thông báo trước cho công chúng về những cáo buộc xúc phạm mang tính tôn giáo mà bộ phim gánh chịu.
Tòa phúc thẩm công nhận tính xác đáng của quyết định sơ thẩm này. Việc bắt các nhà làm phim trong vụ việc này thông tin cho công chúng về những cáo buộc xúc phạm mang tính tôn giáo là một chế tài cần thiết để bảo vệ công chúng, đặc biệt những người có đức tin Thiên Chúa. Khi đã được thông tin đầy đủ, chỉ những ai biết rõ về rủi ro nội dung phim có thể ảnh hưởng đến họ như thế nào mới có thể quyết định một cách đúng đắn nhất về việc có đến rạp xem phim hay không. Thẩm phán tòa phúc thẩm áp đặt thêm yêu cầu bắt các nhà làm phim phải có lời cảnh báo về nội dung phim trên áp phích và trong phần mở đầu phim để đảm bảo thông tin cho công chúng một cách tốt nhất.
Năm 2005, một nội dung quảng cáo nữa lại là đề tài gây tranh cãi tại Pháp : Hãng thời trang Girbaud cho trưng một tấm pa-nô quảng cáo lớn có hình một dàn nữ người mẫu ngồi quây quần trên một một bàn, theo đúng hình mẫu bức tranh Tiệc Ly nổi tiếng của Leonardo Da Vinci vẽ lại bữa ăn tối cuối cùng trước khi bị bắt của chúa Jesus và 12 tông đồ. Bố cục, tư thế dáng ngồi của các người mẫu trong tấm hình quảng cáo của Girbaud mô phỏng theo đúng các nhân vật trong bức tranh của Da Vinci.
Bức pa-nô của hãng thời trang Girbaud. Ảnh: http://theinspirationroom.com/
Bức pa-nô của hãng thời trang Girbaud. Ảnh: theinspirationroom.com
Ngay lập tức tấm pa-nô bị các tín đồ Thiên Chúa giáo phàn nàn.
Hai cấp tòa đầu tiên của Pháp đều đồng ý là nội dung tấm hình có tính xúc phạm người theo đạo Thiên chúa bằng cách giễu nhại hình ảnh bữa ăn cuối cùng của chúa Jesus vốn được xem là thiêng liêng trong truyền thống đạo Thiên Chúa. Hai cấp tòa này chú trọng vào các yếu tố đó là tính thương mại của nội dung tấm hình (chỉ để bán quần áo, không góp ích gì cho công luận về các vấn đề xã hội), vàhình thức, cung cách nội dung tấm hình được đưa đến quần chúng: được trưng nơi công cộng ai ai cũng được hay bị buộc phải nhìn thấy. Hai cấp tòa này cho là việc cho trưng tấm pa nô quảng cáo như thế là một hành vi biểu hiện mang tính xúc phạm vô trách nhiệm xã hội.
Tháng 11 năm 2006, Tòa thượng thẩm Pháp bác quyết định của hai cấp tòa dưới. Xem xét nội dung mang tính giễu nhại của tấm hình dùng trong bức pa-nô nói trên, Tòa thượng thẩm cho là những người làm quảng cáo ở đây không hề cố ý muốn nhục mạ trực tiếp cá nhân những người theo Thiên chúa giáo, họ chỉ muốn biểu diễn lại một cách hài hước một hình ảnh nổi tiếng trong đạo Thiên Chúa. Vì không thể chứng minh được mục đích của những người làm tấm hình là trực tiếp muốn nhục mạ cá nhân những tín đồ Thiên Chúa giáo, không thể áp đặt tội này cho họ.
Nguyên tắc xác định mức độ vô trách nhiệm xã hội của hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm tôn giáo dựa trên hình thức, cung cách tiếp cận công chúng để tìm biện pháp kiểm soát và chế tài tương ứng của các tòa dân sự Pháp thể hiện một sự uyển chuyển và tôn trọng thực tiễn cần thiết để có thể giới hạn quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt một cách hợp lý mà không quá đáng hay cứng nhắc.
Nguyên tắc này tạo điều kiện cho việc phát hành những sản phẩm văn hóa khác ngoài phim ảnh hay áp phích quảng cáo có nội dung làm các tín đồ tôn giáo bất mãn, ví dụ đặc biệt là sách.
nguồn: http://luatkhoa.org/2015/02/gioi-han-cua-su-bang-bo-ky-3-xuc-pham-vo-trach-nhiem-xa-hoi-va-xuc-pham-mang-muc-dich-chinh-dang/

Giới hạn của sự báng bổ – Kỳ 2: Tranh cãi ở phòng xử án

Nam Quỳnh – Kiện tụng dân sự liên quan đến quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt tại Pháp thường được bắt đầu bởi các tổ chức hội đoàn tôn giáo và các nhóm lợi ích tôn giáo lớn. Một số chuyên gia cho rằng, trong các nhóm này, nhóm Do Thái thường là nhóm chịu nhiều áp lực dư luận nhất, tiếp theo sau là các nhóm Hồi giáo.
Lưu ý: Bài viết có hình ảnh gây tranh cãi về tôn giáo, đề nghị bạn đọc cân nhắc trước khi đọc bài.
Tòa án Tối cao Pháp. Ảnh: alarabiya.net
Tòa thượng thẩm Pháp. Ảnh: alarabiya.net
Bài viết này nằm trong loạt bài “Giới hạn của sự báng bổ” do luật sư Nam Quỳnh (Anh Quốc) gửi tới Luật Khoa tạp chí. 
Tương tự như tại Anh từ nửa sau thế kỷ 20, khi tinh thần thế tục đã ăn sâu vào hệ thống tòa án và nhà nước và bản thân tôn giáo không còn mang ý nghĩa cốt yếu cho sự tồn vong chế độ, nhiệm vụ bảo vệ cho sự linh thiêng của tôn giáo tại Pháp được ‘xã hội hóa’ sâu rộng. Trong 9 vụ án đình đám nhất được xử gần đây nhất, có đến sáu vụ là vụ kiện dân sự, trong khi chỉ có ba vụ là hình sự.
Chúng ta có thể khám phá cái cách mà các tòa án tại Pháp cân bằng giữa chủ nghĩa tự do và sự linh thiêng của tôn giáo thông qua các nghiên cứu của luật gia Esther Janssen.
Xúc phạm tôn giáo bằng phát ngôn
Janssen so sánh hai vụ kiện phát ngôn phỉ báng tôn giáo cho thấy sự chú tâm của tòa án Pháp vào nội dung trọng tâm và đối tượng được nhắm đến của phát ngôn trong việc xem xét khi nào thì phát ngôn công kích một tôn giáo có thể được xem là không thể được chấp nhận trong một xã hội dân chủ.
Năm 2002, Tòa sơ thẩm Paris thụ lý đơn kiện nhà văn Michel Houellebecq sau phát ngôn của ông trong một cuộc phỏng vấn trên tạp chí Lire: “Tôn giáo ngu xuẩn nhất vẫn là đạo Hồi. Hãy đọc kinh Quran để thấy là nó mục ruỗng.” (‘La religion la plus con, c’est quand même l’islam. Quand on lit le Coran, on est effondré.’). Tòa sơ thẩm Paris cho rằng phát ngôn này không phải là một phát ngôn mang tính phân biệt chủng tộc chống lại đạo Hồi, đồng thời cũng không phải là một phát ngôn xách động thù hận tôn giáo hay sắc tộc chống lại đạo Hồi. Có vẻ Houellebecq chỉ bình phẩm về đạo Hồi chứ không đả động gì đến các tín đồ đạo Hồi.
Năm 2007, Tòa thượng thẩm – tòa án cao cấp nhất tại Pháp lại cho rằng những lời sau đây của diễn viên hài Dieudonné trên tập san Lyon Capitale cấu thành vi phạm giới hạn tự do ngôn luận: “Bọn Do Thái là một lũ tà giáo, một đám bịp bợm. Đặc biệt nghiêm trọng vì chúng là lũ tà giáo bịp bợm đầu tiên trong lịch sử.” (‘Les juifs, c’est une secte, une escroquerie. C’est une des plus graves parce que c’est la première.’) Phát ngôn này của Dieudonné không thể được xem là một ý kiến phê phán chính đáng và không thể chấp nhận được trong tranh luận công đồng về tôn giáo vì nó là một lời nhục mạ công kích chính nhóm người theo đạo Do Thái dựa trên tôn giáo của họ.
Xúc phạm bằng lạm dụng biểu tượng tôn giáo truyền thống
Năm 1996, bộ phim Quần chúng chống Larry Flynt’ (‘People vs. Larry Flynt’) của đạo diễn Milos Forman ra rạp. Bộ phim được quảng bá tại Pháp cũng như nhiều quốc gia khác bằng một mẫu áp phích với hình ảnh diễn viên Woody Harrelson (trong vai trùm sản xuất phim khiêu dâm Larry Flynt) che đúng phần hạ bộ bằng lá cờ Mỹ, ưỡn người giang tay trong tư thế tương tự như hình tượng chúa Jesus trên thập giá. Vấn đề là phông nền cho Harrelson lại là hình ảnh phóng to phần thân dưới của một người phụ nữ mặc quần bikini.
larry_flynt
Áp phích quảng cáo phim ‘People vs. Larry Flynt’. Ảnh: tmdb.org
Khi tấm áp phích Larry Flynt bắt đầu được trưng trên các bức tường công cộng, tổ chức Thiên Chúa giáo AGRIF đâm đơn khởi kiện nhà sản xuất phim.
Cả hai cấp tòa sơ thẩm và phúc thẩm của Pháp trong vụ AGRIF kiện Colombia Tristar Films (AGRIF t. Colombia Tristar Films) năm 1997 đều phán quyết có lợi cho nhà làm phim Mỹ. Các quan tòa phúc thẩm bình luận là chi tiết lá cờ Mỹ và biểu hiện vui tươi trên khuôn mặt Harrelson không thực sự làm người xem nhớ tới hình ảnh bị tra tấn trên thập giá của chúa Jesus, vốn là biểu tượng truyền thống của đạo Thiên Chúa.
Quan tòa cũng nhắc tới việc Giáo hội Pháp không đả động gì đến áp phích quảng cáo phim này để ủng hộ cho ý kiến của họ là, ngay trong mắt Giáo hội Pháp, thực sự áp phích quảng cáo này không cấu thành một biểu hiện xúc phạm Thiên Chúa giáo làm tổn thương người theo đạo này.
Năm 2002, AGRIF lại một lần nữa đưa một tấm áp phích khác phim ra tòa. Bộ phim ‘Amen của đạo diễn Costa-Gavras sử dụng một tấm áp phích có hình ảnh một hình tượng nửa giống thánh giá của Thiên Chúa giáo, nửa giống biểu tượng chữ vạn của Phát xít Đức. Trên áp phích cũng có hình ảnh hai diễn viên, một người mặc đồng phục sỹ quan Phát xít, một người mặc áo với cổ áo cha xứ đặc trưng. AGRIF cho là việc đánh đồng biểu tượng này biểu hiện một sự xúc phạm tới đạo Thiên Chúa vốn chẳng muốn dính dáng gì tới chủ nghĩa Phát xít.
Áp phích quảng cáo phim Amen của đạo diễn Amen Costa Gavras. Ảnh: portfolio.lesoir.be
Áp phích quảng cáo phim Amen của đạo diễn Amen Costa Gavras. Ảnh: portfolio.lesoir.be
Bên bào chữa cho hãng phim cãi là thiết kế áp phích phim biểu hiện đề tài chính của phim đó là nhằm công kích sự im lặng ngây ngô thụ động, thậm chí có khuynh hướng hưởng ứng đáng sợ mà một số cá nhân và cộng đồng Thiên Chúa giáo đã dành cho những tội ác chống lại loài người của Phát xít Đức trong Thế chiến thứ Hai. Việc dấy lên tranh luận về những động thái được xem là tội lỗi này là một đóng góp có ích cho công luận về vấn đề tôn giáo và giá trị của tôn giáo.
Thẩm phán của vụ việc đã từ chối cả hai cách diễn giải của bên nguyên và bên bị rồi áp đặt diễn giải riêng của ông: hình tượng của tấm áp phích là biểu hiện một nỗ lực hoán đổi biểu tượng chữ vạn (tượng trưng cho chủ nghĩa toàn trị) thành biểu tượng thánh giá (trượng trưng cho lòng nhân đạo). Diễn giải này cho phép quan tòa quyết định là hình ảnh của tấm áp phích không xúc phạm đức tin của những người theo Thiên Chúa giáo.
Quyết định này chịu nhiều công kích của giới luật gia Pháp. Nhiều học giả cho là thẩm phán đã đi quá xa khi áp đặt một diễn giải mang tính cá nhân lên hình ảnh tấm áp phích, trong khi ông chỉ cần làm một việc tối thiểu là xác nhận tính trừu tượng nghệ thuật của nội dung tấm áp phích khiến nó có thể được diễn giải theo nhiều cách, và vì thế những người theo đạo Thiên Chúa không thể áp đặt rằng tấm áp phích đó chỉ có đúng một cách diễn giải mang tính xúc phạm đức tin của họ.
nguồn: http://luatkhoa.org/2015/02/gioi-han-cua-su-bang-bo-ky-2-tranh-cai-o-phong-xu-an/
xem thêm:
kỳ 1: http://luatkhoa.org/2015/02/gioi-han-cua-su-bang-bo-ky-1-nha-nuoc-phi-ton-giao-va-nguyen-tac-co-hoi-cua-nuoc-phap/
kỳ 3: http://luatkhoa.org/2015/02/gioi-han-cua-su-bang-bo-ky-3-xuc-pham-vo-trach-nhiem-xa-hoi-va-xuc-pham-mang-muc-dich-chinh-dang/

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Trần trụi (Trần Tiến)

Tôi đã thấy bạn tôi đi buôn trên đường phố Nga
Bạn tôi ăn xin trên đường phố Mỹ
Bạn bè lừa nhau ngay trên quê hương.
Cũng chính vì nghèo.
Anh có đau không ?
Tôi đã thấy người mẹ năm xưa chào đón quân đi
Mẹ mang mo cơm nuôi từng chiến sĩ.
Bà mẹ nào giờ đây lang thang xin ăn, bên những toa tầụ.
Anh có đau không ?
Chị có đau lòng không?
Ðừng hát, xin đừng mãi ngợi ca, những lời hát nhàm chán
Ru quê hương ta, vinh quang thăng hoa trong bao niềm kiêu hãnh
Mà quên đi áo cơm và hoa hồng.
Không, những người lính nằm xuống,
Không hề mong nhìn thấy quê hương hôm nay,
Đôi tay ăn xin cào xé tim ta
Không ! xin đừng nói giả trá.
Ðâu rồi những bàn tay năm xưa gian lao,
Nay ta bên nhau xây lại đời sống.
Vì tự do, áo cơm và hoa hồng.
Không ! những người lính nằm xuống,
Vẫn chờ mong nhìn thấy, quê hương hôm nay, sau bao gian lao vẫn yên lành.
Hãy quay mặt nhìn lại chính mình.
Tôi đã thấy bạn tôi lao công trên đường phố Nga.
Bạn tôi xây bao công trình cho Mỹ
Người Việt tài năng lang thang nơi đâu, xa với quê nhà.
Anh có đau không ?
Tôi đã thấy người Việt năm xưa, con rồng cháu tiên.
Thật thà yêu thương nhau xây dựng nước.
Người Việt nào giờ đây lo toan riêng tư, khôn quá hoá hèn.
Anh có đau không ?
Chị có đau lòng không ?
Ðừng hát, xin đừng mãi ngợi ca, những lời hát nhàm chán ru quê hương ta,
vinh quang thăng hoa trong bao niềm kiêu hãnh,
mà quên đi áo cơm và hoa hồng.
Không ! những người lính nằm xuống
Không hề mong nhìn thấy quê hương hôm nay,
đôi tay ăn xin cào xé tim ta
Không ! xin đừng nói giả trá.
đâu rồi những bàn tay năm xưa gian lao, nay ta bên nhau xây lại đời sống
vì tự do, áo cơm và hoa hồng.
Không ! những người lính nằm xuống,
Vẫn chờ mong nhìn thấy,
quê hương hôm nay, sau bao gian lao, no ấm yên lành.
Hãy quay mặt nhìn lại chính mình...
Hãy quay lại nhìn rõ chính mình...
Hãy quay lại nhìn về quê hương thân yêu.
Anh có đau không ?.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Con Đường Dân Chủ Thực Tiễn Cho Việt Nam (2)

Thế giới qua hơn nửa thế kỷ nay đã chứng tỏ rằng bất bạo động là phương pháp đấu tranh duy nhất thực sự hữu hiệu trong việc xây dựng nền tảng dân chủ. Có nhiều lý do để tránh mọi hình thức bạo động. Thực tiển đơn giản nhất là khi chính quyền độc tài nắm hết mọi công cụ của bạo lực thì chiến thắng bằng bạo động là chuyện không tưởng. Hy vọng có được hổ trợ vũ lực từ bên ngoài trong hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam cũng hoang đường không kém. Chắc chắn không mấy ai nhân danh dân chủ mà lại cổ súy bạo động chống chính quyền. Nhưng đấu tranh bất bạo động hữu hiệu cần phải theo một số nguyên tắc mà hầu như ít ai chú ý.

Tranh chấp dưới bất cứ hình thức nào cũng nhằm tạo ra áp lực buộc đối phương phải nhượng bộ. Tranh đấu bạo động thì áp lực chính là quân sự. Trong những cuộc đình công bất bạo động ở xứ tự do thì áp lực chính là kinh tế. Tạo ra áp lực cho đối phương cũng như chống lại áp lực của đối phương đều đòi hỏi phải trả giá. Bên thua cuộc là bên không đủ sức trả cái giá cuộc đấu tranh đòi hỏi. Người đấu tranh dân chủ phải tự hỏi họ sẽ tạo ra được áp lực gì đối với chính quyền độc tài và sẽ phải trả giá như thế nào. Hô hào xuống đường khi không có câu trả lời thấu đáo thì chỉ là một hành động bồng bột khó đem lại kết quả như ý muốn.

Phong trào Occupy Wall Street dù đã lan rộng khắp các thành phố lớn ở Mỹ với sự tham dự và ủng hộ đông đảo của thanh niên vẫn không đi đến đâu vì không tạo ra áp lực gì (và cũng không có những đòi hỏi thực tiển). Ngược lại những cuộc biểu tình của Đảng Trà (Tea Party) đã có ảnh hưởng mạnh trên chính trường Mỹ vì áp lực của lá phiếu. Trong một nước toàn trị thì áp lực của lá phiếu, hay ý dân, là một điều vô nghĩa. Vì thế mà hành động xuống đường biểu tình tự nó không phải là một hình thức tranh đấu dân chủ hữu hiệu trong mọi thời điểm. Điển hình là sự bất lực của thanh niên Hồng Kông trước những áp đặt của Bắc Kinh. Dù họ có ý thức chính trị cao và đã chuẩn bị công phu nhưng vẫn không thể tạo ra áp lực đủ mạnh để buộc Bắc Kinh phải nhượng bộ.

Bất phục tùng dân sự (civil disobedience) có thể như cây gậy thọc vào cái bánh xe của chính quyền độc tài. Gậy đủ lớn thì có áp lực đủ mạnh để làm hỏng bánh xe. Nhưng trong thực tế thì rất khó có thể hô hào người dân tạo ra một phong trào bất phục tùng dân sự chống lại chính quyền độc tài. Cái giá của hành động bất phục tùng là tù đày hay ngay cả sinh mạng. Một cái giá quá cao mà bất cứ ở đâu, thời nào cũng chỉ có một thiểu số nhỏ dám chấp nhận.

Xuống đường biểu tình, đình công, bất phục tùng dân sự để tạo ra áp lực của cử tri, áp lực kinh tế, áp lực xã hội, là những hình thức tranh đấu bất bạo động hữu hiệu với một chính quyền có lương tâm. Nhưng dưới chế độ độc tài thì những hình thức tranh đấu này sẽ không tạo ra áp lực gì và do đó sẽ thất bại như ở Hồng Kông (không đạt được mục đích là có qưyền bầu cử thật sự) nếu những người tranh đấu dân chủ chỉ dựa vào chúng.

Chà đạp nhân quyền của người đấu tranh bất bạo động, chính quyền độc tài cũng phải chịu sự phê phán của dư luận quốc tế, sự tẩy chay của những nước văn minh. Nhưng lịch sử thế giới đã chứng tỏ rằng đây là một cái giá mà mọi chế độ toàn trị sẳn sàng chấp nhận khi họ thấy cần. Cuộc thảm sát ở Thiên An Môn năm 1989 là một ví dụ đẫm máu hùng hồn. Vì vậy mà đấu tranh như thế thì phần chủ động sẽ luôn luôn nằm trong tay chính quyền, khó mà thành công được.

Áp lực duy nhất sự đấu tranh bất bạo động có thể tạo ra được trong một chế độ độc tài là một áp lực mà thoáng nghe thì có vẻ mơ hồ nhưng lại là môt áp lực hữu hiệu nhất, mạnh nhất. Đó chính là áp lực của lương tâm. Lương tâm của ai? Lương tâm của người dân, lương tâm của xã hội, lương tâm của những viên chức, bộ đôi, công an trong bộ máy chính quyền. Rất có thể là lương tâm của chính những người đang cầm quyền sinh sát của chế độ. Vai trò của "lương tâm" trong cuộc đấu tranh dân chủ là một vấn đề rất tế nhị. Người đấu tranh dân chủ không thể ngây thơ, chủ quan, mà phải chấp nhận và suy tính rằng chính quyền độc tài vốn không có lương tâm, sẽ không từ một thủ đoạn nào để ngăn chận quyền dân chủ. Nhưng đồng thời họ cũng phải thấy rõ rằng lương tâm của mỗi người, ngay cả những cá nhân trong guồng máy độc tài, cũng không bao giờ biến mất. Lương tâm con người, ngay cả những lương tâm bị che mờ vì lòng tham và thù hận, chính là đối tượng đế chiến thắng của những người đấu tranh dân chủ.

Một khi con người và xã hội cho rằng những chính sách, những biện pháp hiện hành của chính quyền là "vô lương tâm" thì cái chính quyền đó hoặc sẽ phải nhanh chóng thay đổi hoặc sẽ sụp đổ mà không cần cái giá của nhiều hy sinh xương máu. Khi người lính của chính quyền ngần ngừ tay súng, khi thượng cấp của anh ta trì hoãn lệnh bắn, khi những người có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của chính quyền không muốn tiếp tục công việc.. thì chỉ cần một diễn biến nhỏ cũng có thể nhanh chóng đưa đến một sự thay đổi chính trị sâu rộng. Rất có thể những tay lãnh đạo trong chính quyền độc tài cũng sẽ nhận ra sự tỉnh thức của lương tâm xã hội để tiến hành cải cách thật sự hòng tránh tai họa cho chính họ. Nhưng nếu không có một sự rung chuyển trong lương tâm của những thành viên trong xã hội, thì đấu tranh dân chủ sẽ khó mà thành công. Nếu không có áp lực đủ mạnh của lương tâm thì cái giá độc tài phải trả khi ra tay chém giết là rất thấp so với cái giá xương máu của người đấu tranh dân chủ.

Trong cuộc đấu tranh dân chủ này, không có thành trì để chiếm đóng, không thể đánh bại binh đoàn của độc tài, chỉ có thể xoay chuyển được lương tâm của xã hội. Vì thế mà đây không phải là cuộc tranh đấu chống quân thù. Nhưng về phía chính quyền thì càng tạo ra được ấn tượng của một cuộc chống phá bởi những "thế lực thù địch" thì càng dễ khiến xã hội thờ ơ với phong trào đấu tranh dân chủ. Có thể vì không nhận ra bản chất và mục tiêu thực tế của cuộc đấu tranh, nhiều người vẫn dùng những ngôn từ và hình thức sáo mòn để đả kích chính quyền, trong đó có nhiều phần tử họ cần phải thuyết phục và có thể thuyết phục được, như một kẻ thù để tiêu diệt. Dù vô tình, chính họ đang tiếp tay cản trở tiến trình dân chủ của đất nước với cái tư duy, ngôn ngữ, và hành động đã trở thành thói quen từ những cuộc đấu tranh bằng vũ lực của thời xưa.

Để thành công, cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam hôm nay phải có bản chất của một cuộc đấu tranh về tư tưởng, đấu tranh để thuyết phục từng cá nhân trong xã hội rằng cuộc đời của họ, tương lai con cháu họ, tương lai đất nước sẽ tốt đẹp hơn với những đòi hỏi cụ thể của những người đang dấn thân tranh đấu. Tùy hoàn cảnh, quá khứ, và tâm hồn, có người đã chọn con đường đấu tranh dân chủ, có người sẽ cảm nhận và ủng hộ, dù âm thầm, và cũng sẽ có người, trong số những người đang được hưởng độc quyền và đặc lợi, quyết chống mọi tiến triển dân chủ. Cho đến khi mà đa số người dân hiểu và đồng tình ủng hộ những đòi hỏi cụ thể của phong trào dân chủ thì trọng tâm của cuộc tranh đấu vẫn phải là sự thuyết phục quần chúng chứ không phải tổ chức những hoạt động kêu gọi chống chính quyền. (Chính quyền sẽ có những vi phạm đòi hỏi một sự phản đối mạnh như một cuộc biểu tình chẳng hạn. Nhưng người xuống đường cần phải cân nhắc tùy theo vụ việc để thuyết phục thêm được quần chúng thay vì để lọt vào cái bẩy "gây rối loạn, phá hoại đời sống" của chính quyền.)

Ngày mà bà con, bạn bè của những người dấn thân cho dân chủ không hỏi tại sao làm thế, ngày mà họ ủng hộ cuộc đấu tranh, dù chỉ là ngấm ngầm trong tư tưởng, ngày mà  đa số những người chọn đứng bên lề chỉ vì họ sợ, chỉ vì họ không thể hay không dám trả cái giá chống độc tài chứ không phải vì bất đồng tình thì đó là ngày mà thành trì và súng đạn của chính quyền độc tài sẽ trở thành vô hiệu dù bên ngoài vẫn rất hoành tráng. Đây là lý do tại sao những cuộc đấu tranh dân chủ bất bạo động thành công đều có vẻ như đã bùng phát đột ngột và nhanh chóng đạt được kết quả. Thật ra đó chỉ giai đoạn kết thúc của một quá trình xoay chuyển lương tâm của xã hội đã thành công. Vấn đề là làm thế nào để thành công.

Trước hết ta hãy điểm qua những việc làm không có hiệu quả, nếu không nói là phản tác dụng trong việc thuyết phục đa số quần chúng để có được một đất nước dân chủ. Một trở ngại lớn là sự chia rẽ vì lịch sử, hay đúng hơn là vì sự đấu tố lịch sử theo cảm tính, của những người đang cùng kêu gọi dân chủ. Lịch sử Việt Nam dĩ nhiên là phức tạp, bị bóp méo, viết lại nhiều hơn lịch sử của những nước tự do. Tìm hiểu sự thật lịch sử, ngay cả ở xứ tự do, vẫn là một việc làm đòi hỏi tinh thần khách quan và trình độ nghiêm túc của các sử gia chuyên nghiệp. Khi những người không thể phân biệt đâu là sử kiện, đâu là tin đồn, không thể đánh giá được sự khả tín và biện minh của nhân chứng... mà lại hùng hục lên án hay tung hô theo cảm tính thì sẽ không thuyết phục được ai. Đây là một hành động có thể đem lại hứng thú cho những người vốn có cùng niềm tin nhưng vô dụng cho tiến trình dân chủ. Dù lịch sử có như thế nào thì con đường cần đi trước mắt vẫn không thay đổi; và nếu những tệ nạn hiện thời không đủ để rung chuyển lòng người thì sự thật lịch sử cũng chỉ là chuyện cổ tích.

Sự xung khắc không đúng lúc giữa những người cùng đấu tranh dân chủ cũng là một hành động phản tác dụng khác. Dân chủ - quyền được lựa chọn của mọi người, mỗi người dân một lá phiếu - không đòi hỏi người ta phải có ý kiến cụ thể như thế nào, mà chỉ đòi hỏi sự chấp nhận quyền chọn lựa của người khác. Đây chính là mẫu số chung cho tất cả mọi hoạt động đấu tranh dân chủ. Sự bất đồng ý kiến trong những vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày là một điều không thể tránh khỏi, và cũng chính là một yếu tố làm xã hội tiến bộ với thời gian. Những người đấu tranh dân chủ thường không có, không cần có (và cũng không nên có) cùng chính kiến ngoài lý tưởng dân chủ, đặt quyền chọn lựa của dân trên hết. Khi chưa có được quyền chọn lựa thì những tranh chấp khác chỉ làm phân tán nổ lực đấu tranh đòi quyền dân chủ. Những khác biệt này, dù quan trọng, vẫn là những vấn đề phải để hạ hồi phân giải, một khi đã có được thể chế dân chủ. Đây là điều hiển nhiên đến nhàm trên lý thuyết, nhưng thực tế thì bản chất con người vẫn có những đố kỵ, những tham vọng khiến ta khó mà bỏ qua những khác biệt về quan điểm để cùng sát cánh. Rất may là thực tế cũng không đòi hỏi mọi người mà chỉ cần một vài người có uy tín, đại diện tinh thần, của những nhóm tranh đấu dân chủ khác nhau có đủ tâm trí để nói lên và làm theo nguyên tắc thỏa hiệp dân chủ này.

Mắng chửi Cộng Sản một cách chung chung cũng phản tác dụng.  Gốc rễ chỉ là thể chế và bản chất con người. "Người Cộng Sản" đã là một khái niệm vô nghĩa. Trong hàng ngũ Đảng viên và lãnh đạo hôm nay có những kẻ đã bòn rút, trấn lột dân, những kẻ mà  người Cộng Sản 70 năm trước hẳn sẽ giết không tha. Và cũng trong hàng ngũ của những Đảng viên hôm nay, những kẻ được hưởng quyền lợi của chế độ toàn trị lại có những người đứng lên, chịu trả giá tù đày, để đòi cải cách, quyền dân chủ. Những người dùng một cái nhãn hiệu đã lỗi thời để chửi rủa chung chung chỉ biểu lộ tâm trí cạn cợt, chỉ có thể khích động hận thù, hoàn toàn vô ích trong cuộc đấu tranh bất bạo động. Chính những người họ đang miệt thị, những cá nhân trong guồng máy chính quyền, là người mà lương tâm sẽ quyết định tương lai dân chủ của Việt Nam.

Một đặc điểm của đấu tranh bất bạo động, đấu tranh tư tưởng là sức mạnh của phong trào tùy thuộc vào sự minh bạch, công khai của những người tranh đấu. Họ lên tiếng, họ chống đối đường hoàng dõng dạc cho nhân quyền, cho lợi ích của xã hội, cho công lý... Họ không hành sự lén lút, không tuyên truyền nặc danh. Trước những người như thế, đội ngũ an ninh chuyên điều tra, đối phó với những hoạt động chống đối bí mật sẽ trở thành vô dụng đến khôi hài, ngay cả đối với những người công an đang làm nhiệm vụ. Đây cũng là bước đầu để chuyển hoá tâm tư họ. Dù trong hoàn cảnh đối nghịch, ít người có thể nuôi lòng hận thù hay hằn học lâu dài khi đối phương rõ ràng là chống đối để cải thiện, để xây dựng, không chống đối để tiêu diệt hay đập phá.

Diễn biến Thiên An Môn 25 năm trước là một bài học đáng chú ý về khả năng thức tỉnh lương tâm của đấu tranh bất bạo động cũng như cái giá độc tài chịu trả để giữ vững chế độ. Trong bảy tuần biểu tình ôn hòa của sinh viên Bắc Kinh, người dân Bắc Kinh ngày càng ủng hộ họ. Những sinh viên này chẳng nguyền rủa Mao Trạch Đông, chửi Đảng, mà chỉ đòi tự do ngôn luận, thêm quyền dân chủ, dẹp tham nhũng... Ai có lương tâm cũng phải đồng tình, bất kể chính kiến. Đặng Tiểu Bình và đồng bọn không dám tin vào sự trung thành của những binh đoàn đang trấn thủ Bắc Kinh, những người lính đã thấy, đã nghe những sinh viên này trong mấy tuần qua. Lãnh đạo Bắc Kinh đã hoán chuyển những binh đoàn ở xa về để trấn áp. Những người lính này thật lòng nghĩ rắng nhờ có Đảng và lãnh tụ mà đời sống họ khá hơn, nước Trung Hoa được ngẩn mặt với thế giới. Đối với họ những thanh niên đang tranh đấu chỉ là quân “phản động”. Vì thế họ đã không ngần ngại giày xéo khi có lệnh. Hoàn cảnh Việt Nam và thế giới hiện nay thuận tiện hơn nhiều cho cuộc đấu tranh tư tưởng để xoay chuyển lương tâm một cách rộng lớn.

Chính quyền Việt Nam ngày nay có lẽ cũng không thua kém gì Đặng Tiểu Bình và đồng bọn về thủ đoạn chống dân chủ. Những người đấu tranh có nhiều ảnh hưởng chắc chắn phải trả giá. Họ đã và sẽ phải chịu cảnh tù đày. Nhưng tiếng nói của họ dần dà sẽ có được sự ủng hộ, dù là thầm lặng lúc đầu, của đa số quần chúng. Một chính quyền có lương tâm không thể có tù nhân lương tâm. Và những tù nhân lương tâm chính là tiếng chuông mạnh nhất để thức tỉnh lương tâm xã hội, lương tâm thế giới. Tiếng chuông của Nelson Mandela, Aung San Suu Kyi đã đem lại những thay đổi lớn cho nền dân chủ của nước họ (dù hiện vẫn có nhiều trở ngại). Những người chịu trả cái giá tù đày để nói lên điều cần nói, những người tù lương tâm, bao giờ cũng là nổi lo lớn nhất của độc tài. Chính quyền Việt Nam đã nghĩ ra được một giải pháp để tạm thời đối phó. Họ sẽ "xuất khẩu" những ai đã tạo ra ảnh hưởng lớn với lòng can trường dám chấp nhận ngục tù. Tiếng nói của người sống trong một xã hội phồn thịnh, tự do sẽ không có cái hùng tráng đầy sức thuyết phục của tiếng nói bị chận bóp vọng ra từ trong tù.  Nhưng thủ đoạn này sẽ không thể làm ngưng tiếng chuông đánh thức lương tâm vì Việt Nam xưa nay vẫn có những người can trường chịu ngồi tù cho lý tưởng.

Mức độ lên tiếng kêu gọi cải cách dân chủ tùy vào tâm tư và hoàn cảnh của mỗi người, tùy vào cái giá họ sẳn sàng chịu trả để có tiếng nói công khai. Nhưng dù ít hay nhiều, những tiếng nói ấy, nếu tránh được những tranh cải luẩn quẩn đưa ra ở trên, sẽ có tác dụng thay đổi cách nhìn và xoay chuyển lương tâm của xã hội. Trong cuộc tranh đấu này, "chiến trận" không chỉ là lúc đối đầu với công an, an ninh mà chính là trong những lúc đối thoại, tâm tình với bà con, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm... Dù muốn hay không, tác phong, nhân cách, tâm hồn, tính tình của những người đấu tranh dân chủ đều là những yếu tố thuyết phục (hay gây phản cảm) cho phong trào dân chủ. Để có thể "chiến thắng", người đấu tranh dân chủ phải tránh gây ra cảm giác, dù đúng hay sai, là họ chống đối chính quyền vì hận thù hay vì tham vọng cá nhân hơn là vì quyền lợi chung của xã hội.

Người chọn dấn thân trên con đường đấu tranh dân chủ lúc nào cũng phải có một mục tiêu, một đòi hỏi cụ thể cho quyền lợi trước mắt của người dân. Dân chủ - quyền chọn lựa của mọi người - tuy là mục đích tối hậu nhưng cũng là một khái niệm trừu tượng đối với đa số dân. Khi một số đông cảm thấy là đời sống kinh tế đã có nhiều tiến bộ so với mười, hai mươi, ba mươi năm trước thì những lý luận trừu tượng khó làm rung động lòng họ. Những người phê phán chống đối mà không đưa ra được một giải pháp thực tiển, nhất là với ngôn từ và thái độ hằn học, sẽ dễ dàng bị dân coi thường. Tuy chế độ toàn trị là gốc rễ của hầu hết những tệ nạn trong xã hội, thực tế đấu tranh dân chủ hằng ngày cần phải tập trung vào những đòi hỏi thực tiển mà mọi người đều thấy rõ sự lợi ích của chúng. Qua quá trình đấu tranh đòi hỏi những điều này, và phản ứng của chính quyền, người dân sẽ cảm nhận cái giá trị và sự cần thiết của thể chế dân chủ cũng như bản chất tệ hại của mọi chính quyền toàn trị. Để minh họa, ta hãy tưởng tượng một phong trào có thể xảy ra trong thực tế như thế.

Mọi người, dân cũng như quan, đều lên tiếng chống tham nhũng. Hãy phát động một phong trào bài trừ tham nhũng, làm công khai những thu nhập của các quan lớn. Đây hẳn là một đòi hỏi rất hợp lý  và có ích lợi thực tiển. Thu nhập minh bạch của quan chức sẽ tạo thêm lòng tin cho dân, làm quan thêm rạng rỡ - vàng thật không sợ lửa - và bớt gánh nặng cho dân, cho công quỹ vì tệ nạn đục khoét, hối lộ. Không ai có thể chống đối đòi hỏi này trên nguyên tắc. Trong thực tế thì đây là điều mà chính quyền độc tài, lũng đoạn bởi tham quan, sẽ kiên quyết chống. Và đây cũng chính là dip để người dân cảm nhận vai trò của thể chế và ủng hộ, dù thầm lặng, những hoạt động dân chủ không bị ràng buộc bởi quá khứ, hay màu cờ, sắc áo. Đây chỉ là một ví dụ. Có nhiều điều cụ thể như thế, trực tiếp liên quan đến đời sống hằng ngày, trước mắt của người dân, những đòi hỏi không liên quan đến ý thức hệ hay quá khứ chính trị, có thể tạo được sự ủng hộ rộng lớn để đem đến những cải cách dân chủ thật sự.

Bạo hành của công an, hối lộ của chính quyền địa phương, những tổ chức làm ăn gây thiệt hại cho xã hội, luật lệ bất công, v.v... đều có thể là đề tài cho những phóng sự cụ thể, những nhận định chính trị, những đòi hỏi mà đa số dân và ngay cả những Đảng viên có lòng yêu nước đều ủng hộ như ta đã thấy. Nhưng thay vì chỉ đưa ra những lời chỉ trích chung chung hay những kiến nghị, cần phải có những phóng sự chất lượng với những chi tiết và nhân vật cụ thể để vạch trần bản chất vô liêm sĩ, một sự vô liêm sĩ phi chính trị, của những người dùng quyền thế để bòn rút và che đậy tội lỗi. Trước luật pháp, dù là luật pháp khập khiển hiện hành tại Việt Nam, thì đây vẫn là những điều phạm pháp và những tên tội phạm đòi hỏi phải có sự xử lý và trừng phạt thích đáng. Nhưng khi kẻ cướp lại vừa là quan tòa vừa là cảnh sát, hệ quả tất yếu của chính quyền toàn trị, thì cách trả lời thường thấy sẽ là sự trấn áp những phóng viên, những nhà báo nói lên sự thật và những người đòi công lý cụ thể cho xã hội. Người dân sẽ nhìn những tay gian tham này và bộ máy chính quyền phục vụ chúng với cặp mắt đầy khinh bỉ. Không có một biện minh chính trị nào, quá khứ lịch sử nào có thể che lấp được cái bản chất xấu xa của những kẻ đã bị thoái hoá vì quyền lực và dục vọng thấp hèn.

Trong xã hội hiện nay, chính quyền đã không còn có thể hoàn toàn khống chế đời sống kinh tế của mọi người được nữa. Sẽ có những phóng viên, nhà báo độc lập điều tra và phơi bày sự tham nhũng, những đổi chác hại nước, hại dân, những sự bạo hành, phạm pháp của nhiều đại quan. Chính quyền chỉ có thể đối phó bằng cách chà đạp nhân quyền của họ. Bố ráp, kết tội, tống giam những người có dũng khí tìm hiểu và nói lên sự thật, phơi bày cái ai cũng cho là xấu để cải thiện xã hội, thì không chỉ là một vi phạm nhân quyền trắng trợn mà bản chất còn là một sự vô liêm sĩ, bất luận chính kiến và thời đại, đáng khinh của bạo quyền. Những người anh dũng dám đứng mũi chịu sào này chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của nhiều người, của cả thế giới, của ngay chính những người thấp cổ bé họng trong guồng máy toàn trị. Khi cai ngục đã có lòng kính trọng tù nhân thì thay đổi, cải cách thật sự chỉ còn là chuyện một sớm một chiều mà thôi. Bước đầu tiên có lẽ là chính quyền sẽ phải chấp nhận và tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nền tảng của mọi hoạt động dân chủ. Chỉ cần một bước đầu như thế là rất có thể sẽ làm cả hệ thống toàn trị phải nghiên ngã.

Tập đoàn lãnh đạo Việt Nam hẳn cũng không phải toàn là những người u mê. Khi họ thấy lương tâm xã hội đã thay đổi, nền tảng toàn trị đã rạn nứt, rất có thể chính họ sẽ nhanh chóng tiến hành những cải cách cần thiết mà người dân đòi hỏi. Cuộc đấu tranh dân chủ như thế có nhiều triển vọng đem đến những thay đổi sâu xa và tốt đẹp về chính trị, thể chế, như từng xảy ra ở Đài Loan và Nam Hàn.

Đấu tranh như thế dĩ nhiên đòi hỏi phải có những người dấn thân, chịu trả cái giá cá nhân rất cao, nhưng lại không đòi hỏi quần chúng phải trả giá, không làm đời sống xã hội khó khăn hơn, dù tạm thời. Đấu tranh như thế tuy vẫn rất cam go nhưng có sức thuyết phục, dễ đánh thức lương tâm hơn tất cả những gào thét, nguyền rủa, hay kêu gọi người dân đứng lên lật đổ Đảng và chính quyền Cộng Sản như ta vẫn thường nghe thấy trong 40 năm qua. Đây chính là con đường đấu tranh dân chủ thực tiễn nhất. Thực tế hiện nay cũng có những lợi điểm cơ bản khiến ta có thể hy vọng vào một tiến trình dân chủ khả quan ở Việt Nam.

Người Việt không có những xâu xé lâu đời vì chủng tộc hay tôn giáo. Cùng một tiếng nói chung, giao thông, liên lạc đã không còn nhiều trở ngại về địa lý hay hành chánh, người Việt dễ có cùng chung những giá trị về chân, thiện, mỹ khi không còn bị ràng buộc bởi ý thức hệ và lòng hận thù. Từ trong lòng của chế độ, từ lớp người hoàn toàn trưởng thành trong sự giáo dục một chiều, cứng nhắc của chế độ vẫn xuất hiện những người với tài năng, khí phách và tâm hồn khiến hầu hết mọi người phải khâm phục. Bên cạnh họ hẳn phải còn rất nhiều người cũng băn khoăn, mong muốn có được một đất nước thịnh vượng. Ngay cả những người trong tập đoàn độc tài đang bị thao túng vì quyền lợi và tham vọng cá nhân cũng không thể phủ nhận sự thật hiển nhiên đến nhàm về vai trò cơ bản của pháp quyền và dân chủ. Tuy tệ nạn công lý rừng rú và nghị gật vẫn còn nhiều, Việt Nam cũng đã có những cơ sở, dù hiện thời chỉ là hình thức như phấn son tô điểm cho chế độ độc tài, để xây dựng một xã hội dân chủ. Ta đã thấy những người đấu tranh dân chủ hiên ngang tranh luận với công an, bất phục tùng trên căn bản pháp lý, và đưa đại quan ra tòa. Nếu ta có thể rũ bỏ được ý thức hệ, nhãn hiệu, và hận thù - những tàn dư, dù là tàn dư sâu đậm của quá khứ - để tập trung vào những thay đổi, đòi hỏi, chống đối để cải thiện xã hội, chính quyền, và đời sống chung thay vì đập phá thì chắc chắn sẽ có được những thành quả lớn trong tương lai gần.
************************************
Đường lối và triển vọng đấu tranh như thế này chắc chắn sẽ làm những người đang kêu gào cách mạng, đang nuôi mộng một ngày phất cờ lên ngôi thất vọng và nguyền rủa. Hy vọng họ chỉ là một thiểu số rất ít. Thực tế dân chủ không như họ nghĩ. Nhiều vấn đề cần phải đếm phiếu xong mới biết được. Những kẻ đặt điều kiện về đảng phái, chủ thuyết, dân trí, cờ quạt ... trước quyền chọn lựa của người dân chỉ là dân chủ giả hiệu, là độc tài vô quyền, bản chất vốn không khác độc tài đương quyền.Nhà cháu mặt xanh như đít nhái, xin vái chào chư vị cao nhân và xin chuồn đi đây

Con Đường Dân Chủ Thực Tiễn Cho Việt Nam (1)

LTS: Vì cái tít thuộc loại "Đại ngôn thì có tên này tiên sư" nên nhà cháu phải có đôi lời xin khúm núm trình làng. Nhà cháu hay nguệch ngoạc linh tinh chuyện chính trị trên Facebook. Có bậc trưởng bối phê bình rằng nhà cháu rất ngã mạn, chính trị mà cứ nói đến mình. Nhà cháu có thưa với cụ là những điều nhà cháu hiểu về chính trị thì hiển nhiên đến nhàm như tình yêu đôi lứa. Phải là người tự tin hơn nhà cháu nhiều lắm mới dám viết về cơ sở lý thuyết của tình yêu, yêu đương biện chứng pháp, hay những điều cao siêu trí thức tương tự. Bọn nhà cháu mà gặp những đề tài, những người như thế là vội vắt giò lên cổ, ngoác miệng tận mang, vừa chạy vừa cười. Chỉ biết ề à chuyện cá nhân mình chính là một sự khiêm tốn trung thực. Không thấy cụ nói gì. Nhà cháu đang hài lòng là mình có được cái đức tính khiêm tốn thì máu ngông lại nổi lên, thật oái ăm.Lòng tự hỏi lòng, hay là mình thử viết một bài phân tích, nhận định chính trị gì đấy xem sao. Lòng thiện vội cản, có học hành, nghiên cứu chính trị cái mịa gì đâu mà đòi viết. Lòng tham thì xúi, cứ đem mấy điều hiển nhiên đến nhàm xào qua, xáo lại, triết lý mơ hồ, nhưng cứ nói như phán, đừng dùng chủ từ ngôi thứ nhất số ít, kẹt lắm thì cứ "ta” và “chúng tôi" như một ông thầy dạy văn ngày xưa là xong. Cuối cùng thì Tham vẫn thắng Thiện. Và đã trót thì phải trét. Đang là trộm mà muốn thành cướp thì không thể cứ len lén, cười cười, nói năng nhỏ nhẻ mà phải đạp cửa xông vào, hùng hổ từ tít đầu dù tay chân run rẩy, mặt xanh như nhái.Phải dài dòng phân bua vì nhà cháu sợ các bậc trưởng thượng, trí thức cho là mình thất kính với họ. Nhà cháu gốc là thiếu nông (ngày nhỏ cuốc đất trồng khoai ở Đà Lạt), khi xa nhà lại lăn lóc với mấy đứa cao bồì, gốc dân chăn bò xứ Mỹ. Vi phần tiên học lễ khiếm khuyết nên chuyện vô tình phạm thượng e rằng không tránh được, nhưng nhà cháu thật lòng vẫn kính phục mọi người hảo tâm dù không đồng ý với họ. Bài này của nhà cháu tuy văn từ vẫn còn hơi hướng chợ búa (dù đã có cố gắng che đậy) nhưng nội dung hoàn toàn nghiêm túc, tuyệt không dám có ý chớt nhã. Xin kính.
Có được một đời sống ấm no, không sợ hãi trong một xã hội phát triển ổn định là nguyện vọng của mọi dân tộc trên thế giới. Tất cả những diễn biến lịch sử, những phát triển kinh tế, xã hội, và những khám phá khoa học đều đưa đến một kết luận chính trị chung. Chỉ có thể chế dân chủ với một hệ thống chính phủ mà quyền lực của người cầm quyền đương thời bị giới hạn, kiểm soát theo những nguyên tắc dân chủ mới có thể đáp ứng được nguyện vọng của xã hội một cách dài lâu. Chỉ có một chính quyền được dân bầu lên, bị dân kiểm soát, do dân thay đổi thì mới giữ được bản chất là chính quyền của dân và vì dân.

Sự ưu việt của thể chế dân chủ không còn là một đề tài trong những cuộc tranh luận nghiêm túc ngày nay. Ngay chính độc tài cũng công nhận, cũng phô bày "dân chủ" như một món đồ giả. Giả vụng về, trắng trợn: Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Giả mập mờ, lấp liếm: Dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ tư bản. Thế nhưng những cải cách để đưa đến một thể chế dân chủ ở Việt Nam, nếu có, thì vẫn rất chậm, rất miễn cưỡng.

Chính quyền đương thời nào cũng có động lực củng cố và triến khai quyền lực của mình. Khi nền tảng dân chủ chưa có thì chính quyền sẽ chống lại, tìm cách triệt hạ mọi xu hướng đối lập, ngay cả chém giết khi họ thấy cần. Đài Loan và Nam Hàn đều trải qua giai đoạn này dưới thời Tưởng Giới Thạch và Phát Chính Hy (cả hai đều chống cộng). Vấn đề không phải là chủ thuyết hay nhận thức mà là bản chất tự nhiên. Chính quyền Việt Nam đương thời, dân tộc Việt, xã hội Việt cũng không là ngoại lệ.

Trong nước đã xuất hiện một số người chống lại chính quyền hay chính sách của chính quyền. Nhưng nhiều người vẫn ta thán rằng chưa có phong trào và nhân vật đối lập nào có được sự ủng hộ sâu rộng của quần chúng. Một quan điểm đang thịnh hành trong số những người chống chính quyền trên mạng là quá nhiều người Việt chưa đủ trí tuệ để nhận ra tội ác của chế độ, chưa đủ dũng khí để chống lại chính quyền, và vô cảm truớc những tệ nạn xã hội mà nhà nước phải chịu trách nhiệm. Một dân tộc Việt ngu, hèn, và trơ là lý do họ thường nêu ra để giải thích sự tham gia tương đối tẻ nhạt của người dân trong phong trào đấu tranh cho dân chủ.

Sự mâu thuẩn lớn trong quan điểm này là tư duy độc tài - tự đặt mình lên trên để nhìn xuống và miệt thị số đông trái ý mình - của một số người đang lớn tiếng hô hào dân chủ. Có thể nghi ngờ họ không hiểu dân chủ thật sự là gì. Thái độ của họ không tạo ra sự tin tưởng rằng nếu được quần chúng ủng hộ thì họ sẽ không đi vào vết xe đổ của Mohamed Morsi. (Được dân Ai Cập bầu lên sau khi chế độ độc tài của Hosni Mubarak sụp đổ, Morsi và đảng Huynh Đệ Hồi Giáo đã nhanh chóng tập trung quyền lực chống lại mọi hoạt đông dân chủ.) Dù vô tình, chính họ đã là một dẫn chứng hùng hồn cho sự ngụy biện của chính quyền rằng đa đảng, đa nguyên chỉ đưa đến loạn lạc. Không có gì lạ khi họ không được đa số người Việt trong nước hổ trợ.

Một số Đảng viên, cựu Đảng viên lão thành cũng đã nhận ra sự cần thiết của cải cách dân chủ. Nhưng những lời kêu gọi cải cách của họ vẫn chưa và có lẽ cũng sẽ không có hiệu lực gì. Họ không có quyền, không còn nắm những chức vụ quan trọng. Ảnh hưởng của họ, nếu có, chỉ trên bình diện tư duy, tinh thần. Nhưng chính quyền đương thời chống những hoạt động dân chủ không phải vì thiếu suy nghĩ, cần được thức tĩnh mà chỉ vì sự bám víu quyền lợi, một bản chất cố hữu của con người. Những nhân vật như George Washington và Nelson Mandela đều là ngoại lệ, hiếm có. Khách quan mà suy luận thì cái xác suất trong giới lãnh đạo của Việt Nam hiện nay có người đủ quyền và đủ lòng để tiến hành cải cách như Mikhail Gorbachev ở Liên Xô trước đây là rất thấp.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những kiến nghị, tâm thư, đề xuất... của những người mong có được một cải cách thể chế thật sự đều đã không đi đến đâu. Ủng hộ dân chủ bằng phương pháp đưa thư, đệ đơn này không những đã không có hiệu quả thực tế mà lại còn có vấn đề về khía cạnh tư tưởng. Có thể nói những người chọn con đường này đã mặc nhiên chấp nhận chính quyền là một thực thể trên dân, có tư cách ban phát cho dân. Dù họ là người có lòng yêu nước, thương dân thì đây vẫn là tư duy lạc hậu của thời phong kiến, hoàn toàn trái ngược với lý tưởng dân chủ.

Có lẽ vì nhận thấy sự quan trọng của tư duy và phương pháp trong cuộc đấu tranh chống độc tài, một số người đã cho rằng cần phải có một đội ngũ trí thức ưu tú để hướng dẫn quần chúng đấu tranh đòi dân chủ. Thành phần trí thức đi tiên phong này có thể sẽ được đào tạo, học hỏi ở nước ngoài rồi về nước lãnh đạo quần chúng. Họ sẽ là những người vững vàng với lý tưởng, không ngại gian khổ, hy sinh. Sách lược này không phải là mới, đã được áp dụng thành công bởi Hồ Chí Minh cùng các đồng chí của ông để chống lại chế độ thực dân Pháp. Nhưng trong thực tế ngày hôm nay thì sách lược này không thể thực hiện được.

Câu hỏi quan trọng là những người trí thức này sẽ nói gì, sẽ làm gì để được quần chúng tín nhiệm, tự nguyện đi theo cho họ hướng dẫn, lãnh đạo. Họ sẽ nói gì, làm gì để người dân chịu gánh thêm gian khổ, có thể bị tù đày và hy sinh mà không sợ cảnh "tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa"? Ngoài trường hợp không thực tiễn là có siêu nhân xuất hiện, câu trả lời khách quan sẽ là gáo nước lạnh tạt vào giấc mơ tranh đấu dân chủ theo sách lược này.

Hơn nữa, khác với những năm ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước, đây không phải là một cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Tất cả những liên hệ đến thế giới bên ngoài sẽ bị chính quyền đương thời tuyên truyền là tay sai của ngoại bang. "Thế lực thù địch", một khái niệm mơ hồ mà chính quyền vẫn dùng để biện minh cho sự đàn áp những hoạt động dân chủ, đột nhiên sẽ hết mơ hồ. Những người trí thức này sẽ bị chận bắt trước khi họ có cơ hội lãnh đạo, hướng dẫn quần chúng. Đây là một sách lược tranh đấu dân chủ vô kế khả thi nếu người lãnh đạo phải là "trí thức ưu tú" thuộc một trường phái nhất định.

Những diễn biến chung quanh vụ Trung Quốc kéo giàn khoan xâm phạm lãnh hải Việt Nam vào tháng Năm vừa qua đã làm rõ nét hịện trạng giới hạn cũng như một con đường đấu tranh dân chủ có hiệu quả trong tương lai. Phản ứng và thái độ của quần chúng từ những người cành sát biển, phóng viên, đến ngư dân, sinh viên, người già, giới trẻ... chứng tỏ rất nhiều người Việt, có thể là đa số, không hèn và vô cảm, không thờ ơ với vận nước khi có một mục tiêu rõ rệt như chống ngoại xâm. Rất nhiều người đã nhận định chính xác rằng phải có cải cách thể chế mới có thể bảo vệ được chủ quyền lâu dài. Thái độ bí ẩn và phản ứng khó hiểu của chính quyền trong vụ này chứng tỏ rằng đặt tin tưởng vào một chế độ độc tài trong việc bảo vệ chủ quyền chung của đất nước cũng nguy hiểm như tin rằng họ sẽ tạo ra một xã hội chung ngày càng giàu mạnh hơn. Thế nhưng khi câu hỏi ai, tổ chức nào sẽ thay thế nhóm lãnh đạo và Đảng Cộng Sản Việt Nam đuợc đặt ra trên mạng thì những người kêu gọi chống chính quyền đã không có câu trả lời thoả đáng. Phản ứng của họ gây ra ấn tượng là chính họ đang bị bế tắc trong tư duy và trong sự vận động đa đảng, đa nguyên.

Không thể gạt qua câu hỏi này bằng cách nghi ngờ động lực và trình độ của người hỏi như nhiều người vẫn làm. Bất kể người hỏi là ai, đây là một câu hỏi chính đáng cả trên nguyên tắc và trong thực tế đấu tranh dân chủ. Một câu hỏi quan trọng đòi hỏi câu trả lời rõ ràng, nghiêm túc.

Trước hết, đây là một câu hỏi thực tế về thực lực đối kháng. Đưa ra một viễn ảnh cụ thể để chứng tỏ sẽ có đủ đối trọng là một việc làm cần thiết nếu muốn được quần chúng tin theo. Cũng là một việc làm vô vọng. Dù muốn hay không, đại dìện duy nhất cho nước Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc hôm nay là nhà cầm quyền đương thời, một chính quyền đã có quan hệ ngoại giao chính thức với các quốc gia lớn. Không một nước dân chủ nào sẽ nhảy vào hổ trợ vũ lực chống chính quyền đó. Ngoại lệ duy nhất, trên nguyên tắc, là khi có nội loạn, nội chiến gây ra quá nhiều chết chóc cho dân lành. (Thực tế thì vẫn rất khó như phản ứng của Anh và Mỹ với tay độc tài Assad ở Syria đã chứng tỏ.) Thế là cách duy nhất để khả dĩ có đủ đối trọng lật đổ chính quyền vẫn phải là sự ủng hộ đông đảo của quần chúng. Nhưng những người kêu gọi cách mạng, đấu tranh lật đổ chính quyền lại không có sự ủng hộ này. Họ vẫn không thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn tạo ra bởi những tư tưởng lỗi thời, không thích hợp với thực tế ngày nay.

"Nhân dân vùng lên" là một câu khẩu hiệu, không phải là đường lối chính trị. "Dân hèn, ngu, và trơ đông như quân Nguyên" là một biện minh cho sự thất bại chính trị, không phải là một nhận định hữu ích thực tiễn.

Tạo nên một cuộc cách mạng quần chúng để lật đổ chế độ hiện hành chỉ là một ảo tưởng vì hai lý do cơ bản. Thứ nhất là khi không thấy có đối trọng, không thấy có hy vọng thành công, ta thường chọn con đường để có được những nhu cầu thực tế trước mắt theo bản năng sinh tồn. Người mà nhu cầu thiết yếu của họ bị đe doa sẽ có khuynh hướng vùng lên, liều chết kháng cự, nhưng trong thực tế hiện nay thì tỉ lệ của những người như thế không đủ để làm cách mạng.

Lý do thứ hai là sự tàn độc không phải là mục đích, là nguyện vọng của nhà cầm quyền độc tài hiện nay ở Việt Nam. Nó chỉ là phương tiện để giữ vững độc quyền, đặc lợi. Chính quyền sẽ thắt nới tùy hoàn cảnh để vừa giữ vững quyền lợi vừa tránh nạn "cùng tắc biến". Họ đã thành công và không có dấu hiệu gì là họ sẽ thất bại trong tương lai gần như nhiều người vẫn hy vọng.

Hô hào quần chúng xuống đường đối kháng chính quyền và miệt thị họ ngu, hèn khi họ không đáp ứng là việc làm vô ích, phi dân chủ và gây phản cảm, nhất là từ những người đang được sống ngoài vòng cương toả của chế độ độc tài.

Thỉnh nguyện không được, vùng lên lại chẳng có mấy ai. Tiến trình dân chủ sẽ như thế nào?

Câu hỏi "Ai sẽ thay Đảng...?" chính là một cơ hội để những người trí thức chống độc tài khẳng định lại bản chất và mục đích của cuộc tranh đấu cho dân chủ nhằm thu hút sự ủng hộ của quần chúng. Trên nguyên tắc, người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa không tranh đấu cho quyền lãnh đạo của một người hay một đảng. Người đấu tranh dân chủ đúng nghĩa tranh đấu cho cái quyền được chọn lựa: Mỗi người dân một lá phiếu. Đấu tranh để có quyền chọn lựa như thế là mới chính là đấu tranh dân chủ. Không phải mọi phong trào chống độc tài đều là đấu tranh dân chủ. Đặt sự chọn lựa đảng phái, chủ thuyết, người lãnh đạo... trước khi có quyền chọn lựa sẽ biến cuộc đấu tranh này thành một sự xung đột giữa những thế lực khác nhau, dễ khiến người dân nghi ngờ hơn là tin cậy.

Cuộc đấu tranh dân chủ chân chính là cuộc đấu tranh để mọi người dân thật sự có quyền chọn lựa. Chọn lựa cụ thể như thế nào thì tùy dân, là quyền của dân. Theo tinh thần bất hủ của Voltaire (khi ông nói về quyền tự do ngôn luận), người đấu tranh dân chủ chân chính hẳn phải có tâm niệm: Dù tôi không đồng ý với sự chọn lựa của họ, tôi vẫn tranh đấu đến cùng cho quyền được chọn lựa của họ. Người đấu tranh dân chủ chân chính sẽ chống lại mọi khuynh hướng giới hạn quyền chọn lựa của người dân. Ngoại trừ độc tài đương quyền, không ai chống lại mục tiêu và con người đấu tranh như thế: Đấu tranh bất bạo động cho quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người, bất chấp đảng phái và chính kiến.

Chỉ bằng cách khẳng định thật rõ ràng rằng mục tiêu đấu tranh là cái quyền được chọn lựa của mỗi người, của mọi người mới có thể thu hút được sự hổ trợ của đông đảo quần chúng. Từ những người vẫn nghĩ rằng Đảng CSVN đã có công trong sự giành độc lập, thống nhất đất nước cho đến những người vẫn tin rằng CS là một đại họa của dân tộc, tất cả (trừ độc tài đương quyền) đều muốn có được cái quyền ấy. Đây là mục tiêu quan trọng tối hậu. Bên cạnh nó, những tranh chấp về các diễn biến lịch sử, đúng sai của những chủ thuyết chính trị, công tội của những nhân vật lịch sử v.v... chỉ là những vấn đề để nghiên cứu và tranh luận khi trà dư tửu hậu, khi đã có được một thể chế dân chủ.

Dĩ nhiên là độc tài đương quyền sẽ tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để trấn áp tất cả những hoạt động đấu tranh dân chủ. Họ sẽ đưa ra mọi lý lẽ để phân hoá, để chứng tỏ cuộc đấu tranh dân chủ chỉ là một sự tranh giành quyền lợi hay có ý đồ làm loạn. Đấu tranh thành công cần phải có đủ một số yếu tố. Quan trọng nhất là làm thế nào để có thể tạo được sự ủng hộ đông đảo, dù âm thầm, của quần chúng. Lý tưởng dân chủ - cái quyền được chọn lựa của mỗi người -  tự nó chỉ là một khái niệm trừu tượng đối với những người phải quần quật, đầu tắt mặt tối để mưu sinh. Tư tưởng và phương pháp đấu tranh cụ thể để có được một tiến trình dân chủ thành công là nội dung của Phần II.

******************************************
Nhà cháu từng tán chuyện Hồng Kông và chủ quan cho rằng tiến trình dân chủ ở Việt Nam xem thế mà khả quan hơn Hồng Kông. Trong lúc nhiều người nức nỡ khen thanh niên HK và chê đè dân Việt, nhà cháu lại khâm phục nhiều người Việt trên mạng vì thấy họ thật có tâm hồn và trình độ. Nhà cháu sẽ xin trình bày tiếp là triển vọng có được một thể chế dân chủ trong tương lai không xa cũng không phải là chuyện viễn vông, "haidza, pó tay, đắng lòng".