Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

CHÚNG TA CÓ QUYỀN CON NGƯỜI TỪ BẨM SINH, CHỨ KHÔNG PHẢI NHỜ ƠN CHÍNH QUYỀN BAN PHÁT !

GS.TS. Nguyễn Đăng Dung chủ nhiệm bộ môn luật hành chính - Hiến pháp, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội: CHÚNG TA CÓ QUYỀN CON NGƯỜI TỪ BẨM SINH, CHỨ KHÔNG PHẢI NHỜ ƠN CHÍNH QUYỀN BAN PHÁT !
"...Cách qui định về quyền con người trong Hiến pháp của Việt Nam gây cảm tưởng rằng quyền con người không phải là quyền vốn có do Tạo hóa ban cho con người với tư cách là con người, mà là do nhà nước ban cho người dân. Quy định về quyền công dân thì phải đặt công dân ở vị trí chủ thể, nhưng nhiều qui định về dân quyền trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành đa phần đặt nhà nước ở vị trí chủ thể, còn công dân thì như là đối tượng được ban cho quyền chứ không phải được thừa nhận quyền...
Điều 51, Hiến pháp năm 1992 quy định: "Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật qui định".
Trong 33 Điều của Chương V về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thuật ngữ "nhà nước với tư cách là chủ thể lại xuất hiện khá nhiều. Những công thức thường được áp dụng là: "Nhà nước bảo đảm..."; "Nhà nước... có kế hoạch..."; "Nhà nước ban hành..."; "Nhà nước qui định..."; "Nhà nước giao..."; "Nhà nước có chính sách..."; "Nhà nước tạo điều kiện..."; "Nhà nước bảo hộ...".
Theo những công thức như vậy, nhà nước giống như là chủ thể "sáng tạo" ra quyền con người, chứ không phải là chủ thể "tôn trọng" quyền con người. Ở đây cần hiểu rằng nhà nước không chỉ có nghĩa vụ bảo đảm, thực hiện, thúc đẩy quyền con người, mà đầu tiên phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người. Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải hạn chế không can thiệp vào việc thụ hưởng các quyền của cá nhân.

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Tự do Tư tưởng - Tự do Ngôn luận

nguồn: http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/tu-do-tu-tuong-tu-do-ngon-luan.html

Hoàng Đạo

Tự Lực Văn Đoàn - Số 171, 172 (Ngày Nay, 1939)
07:30' CH - Thứ ba, 01/03/2016
Tự do Tư tưởng

Tự do cá nhân là tự do của thân thể con người. Nhưng ngoài thân thể, còn có tinh thần. Tự do tư tưởng chính là sự tự do của người ta về mặt tinh thần vậy. Người đã được tôn trọng, thì linh hồn, tư tưởng của người, là phần tôn quý nhất trong con người, lẽ tự nhiên là phải được quý trọng, phải được nảy nở, phát triển ra một cách tự do.

Sự tự do ấy, đối riêng với từng người, thì thật là dễ dàng, không cần phải bàn luận đến. Tư tưởng của ta, đối riêng với ta, muốn bông lông hay ngang trái đến thế nào mặc dầu, cũng không ai kềm chế nổi, vì không ai biết đến để mà kềm chế. Thế cho nên, tự do tư tưởng không phải chỉ có nghĩa là tự muốn có ý kiến gì trong thâm tâm cũng được, mà còn có nghĩa là ý kiến ấy có thể tự do phát biểu, tự do truyền bá nữa.

Chính vì nghĩa đó nên bản tuyên ngôn Nhân quyền và Công quyền (Pháp), điều thứ X và thứ XI, đã tuyên bố
ĐIỀU THỨ X – Không có ai phải lo ngại về tư tưởng của mình, dù về tôn giáo cũng vậy, miễn là sự biểu lộ không trở ngại đến trật tự của công chúng do pháp luật định ra.
ĐIỀU THỨ XI – Việc tự do thông đạt ý kiến và tư tưởng là một quyền hạn trong các quyền hạn rất quí của người ta. Vậy phàm công dân nào cũng có thể được tự do ngôn luận, tự do trước tác, tự do ấn loát, trừ ra khi lạm dụng quyền tự do ấy thì phải chịu trách nhiệm theo như pháp luật đã định.

Xem như vậy, tự do tư tưởng gồm có nhiều quyền tự do khác, tự do tôn giáo, tự do giáo dục, tự do ngôn luận, tự do hội họp.
Thế nào là tôn giáo tự do? Là phàm làm người, ai muốn theo tôn giáo nào hay không theo tôn giáo nào cả tùy ý, nhập giáo hay xuất giáo tùy lòng.

Quyền tự do này không phải là lúc nào cũng có. Người ta nhận ra rằng lòng tương thứ về mặt tôn giáo rất hiếm. Thường thường, tôn giáo nào được nhiều người tín trong một nước, hay được chính phủ theo, là chiếm lấy phần thắng, tìm cách tàn hại các tôn giáo khác. Ngày trước, ở các nước quân chủ, bày tôi và thần dân phải theo tôn giáo của vua chúa, dẫu ở Đông phương hay Âu châu cũng vậy. Ở những nước ấy lòng tín ngưỡng rất mạnh, vì vậy, hay xảy ra những cuộc tàn sát những người theo một tôn giáo khác tôn giáo của chính phủ, như ở bên nước Pháp về thế kỷ thứ XVI. Cả đến nước Nam ta, là một nước rất có lượng chiêu nạp các tôn giáo, mà cách đây không đầy một trăm năm, cũng đã sinh ra những việc giết hại các giáo sĩ của đạo Thiên Chúa. Coi đó, tôn giáo tự do là một quyền tự do mãi đến gần đây mới được nhân loại nhìn nhận.

Quyền tự do ấy đã được nhìn nhận về nguyên tắc, thì về mặt thực hành, người ta phải nghĩ đến cách làm cho quyền tự do ấy được phát triển. Muốn thế, một là trong xã hội, không bao giờ được lấy tôn giáo để định phận cá nhân, một người trong nước Annam chẳng hạn không được vì theo đạo Gia-tô hay đạo Phật mà coi hơn được người khác. Hai là không có thể bắt buộc hay ngăn cản người ta theo một tôn giáo nào. Theo hay không theo là tùy ở lương tâm của người ta.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà không ai có quyền khuyên nhủ người ta theo tôn giáo hay là bỏ hẳn tôn giáo: trái lại, quyền ấy là quyền của mọi người, vì sự khuyên nhủ ấy chỉ là sự phát biểu của một ý kiến, một tư tưởng. Ba là chính phủ - ở những nước chính phủ - phải đứng trung lập về mặt tôn giáo, không được thiên vị một tôn giáo nào; và chỉ có quyền can thiệp đến để gìn giữ, bảo vệ trật tự chung mà thôi.
Tự do giáo dục chỉ là một hình thể của sự tự do về tư tưởng. Người ta, đã được tự do, phải có quyền nâng cao nhân phẩm của mình, có quyền làm nẩy nở năng lực của mình, nghĩa là có quyền học cho biết thêm. Và quyền học ấy sẽ không có, nếu không ai có quyền dạy, nếu không có tự do giáo dục. Vì rằng nếu muốn học mà ai nấy đều phải tìm đến một giáo môn thôi, thì sự học ấy không được hoàn toàn tự do.

Đối với người đã đủ trí khôn để suy xét, thì không còn nghi ngờ gì nữa, ai ai cũng công nhận rằng đã đủ trí khôn, là được tự do kén chọn lối học, thầy dạy của mình, và có lầm lẫn thì tự mình chịu lấy trách nhiệm. Nhưng đối với con trẻ, vấn đề khó khăn và phiền nhiễu hơn. Là vì ở đây, ta thấy quyền của cha mẹ đi đôi với quyền của nhà nước.

Cha mẹ, đối với con, vừa có quyền, vừa có bổn phận nâng cao nhân phẩm của những tâm hồn non nớt yêu dấu ấy.

Bổn phận ấy, cha mẹ có thể tự mình làm chọn, và vì thế, cha mẹ hẳn phải có quyền chọn thầy học cho con mình; cha mẹ đã có quyền đem những ý tưởng của mình truyền cho con, thì cũng có thể tìm người đồng tư tưởng thay mình. Tuy nhiên, con trẻ không phải chỉ là của gia đình mà thôi, mà về sau sẽ còn là một công dân, một phần tử của nước, và vì thế, nước cũng có quyền và có bổn phận trông nom coi sóc đến sự học của những người vị thành đinh.

Hai dòng tư tưởng ấy có khi tương phản, có khi hòa hợp nhau; trong thực tế, cả cha mẹ lẫn nước nhà đều có ảnh hưởng đến nền giáo dục của con trẻ. Có một điều đáng chú ý nhất, là cha mẹ không có quyền để cho con chịu sự ngu dốt; và chính cả nước cũng có bổn phận lo cho con trẻ có một chút học vấn. Cái ý đó đã khiến các nước văn minh đặt ra luật cưỡng bách giáo dục; phàm cha mẹ phải cho con em có một nền học vấn, và muốn giúp cho sự học ấy, chính phủ phải đặt đủ trường sơ đẳng để dạy trẻ em. Những trường ấy cần phải không lấy tiền học phí và cần phải theo một chương trình trung lập, cốt là để cho con trẻ một ít học thức cần dùng cho đời họ về sau này. Lên trên một bực thì sự học được tự do. Thí dụ như ở bên Pháp, chính phủ đặt ra các trường công, đủ các hạng; và ở cạnh, những người có đủ đảm bảo để dạy học, có quyền mở trường tư ở dưới quyền kiểm soát của chính phủ. Tuy nhiên, ngay như ở bên Pháp, ta thấy quyền tự do ấy không được toàn vẹn. Là vì nếu ai nấy đều có quyền theo học ai cũng được, đến hạng nào cũng được, nhiều người vì tình cảnh không được tự do học đến bậc cao đẳng và vì thế, có sự bất công giữa nhân dân. Nhưng có lẽ ý tưởng này có can hệ đến sự bình đẳng hơn là nguyên tắc tự do.

Tự do Ngôn luận

Tự do tư tưởng chỉ là chuyện chiêm bao nếu tư tưởng không được tự do truyền bá. Sự tự do truyền bá ấy, người ta gọi là tự do ngôn luận. Tôi có những tư tưởng, những ý kiến tôi tin là xác đáng, nếu tôi chỉ có quyền giữ riêng cho tôi, thì một sự tiến bộ nhỏ, một sự thay đổi con không sao xảy ra trong xã hội được. Tôi cần phải đem những ý kiến, tư tưởng ấy truyền bá cho người khác biết; hoặc dùng lời nói, hoặc dùng báo chí, sách vở.

Tự do báo chí hay tự do ngôn luận là một tự do người ta đã tranh đấu nhiều lắm mới có. Những chế độ chuyên chế rất sợ tự do ấy, vì biết rằng đó là một sức mạnh có thể đạp đổ mọi điều áp bức, lay chuyển cái trật tự hiện có trong xã hội. Cho nên, ở dưới quyền các vị đế vương xưa dẫu ở bên Pháp hay ở bên Annam, ở Tây phương hay ở Đông phương, tự do ngôn luận chỉ là một mộng tưởng. Và ngay bây giờ, ở những nước người ta không muốn cho dân trí mở mang, vì sợ thiệt hại đến đặc quyền của một số ít, sự tự do người ta chôn chặt nhất, là tự do ngôn luận. Vì thế, muốn biết một nước đương theo chế độ dân chủ hay chế độ chuyên chế độc tài không có gì đáng làm tiêu chuẩn hơn là xem trong nước ấy báo chí được tự do hay bị trói buộc.

Tuy nhiên, sức mạnh của ý tưởng tự do lớn đến nỗi ở ngay những nước chuyên chế hay độc tài, chính phủ cũng không dám nói trắng trợn ra rằng tự do ngôn luận là một cái nạn chung, nên triệt bỏ. Họ thường dựa vào sự vọng dụng quyền tự do ngôn luận để khuôn tư tưởng dân chúng vào nơi họ muốn. Mà tự do nào chảng sinh ra sự vọng dụng 1) !
Nhất là đối với tự do ngôn luận, thì sự vọng dụng càng dễ trông thấy. Nào là làm náo động nhân tâm bằng những tin tức bịa đặt nào là xui giục nhân dân nổi loạn hay phảm vào trọng tội khác, nào là làm bại hoại phong hóa, nào là phỉ báng vu cáo để làm thiệt hại đến danh dự của người khác.

Bằng cứ vào những sự vọng dụng ấy, chính thể chuyên chế hoặc là triệt bỏ hẳn tự do ngôn luận, hoặc là tìm phương pháp bó buộc cho thật chặt chẽ sự tự do ấy. Những phương pháp ấy, họ bảo là để đề phòng những sự vọng dụng của sự tự do ngôn luận. Không kể những nước độc tài, là những nước báo chí sách vở đều phải theo lệnh của chính phủ, những nước có chính thể chuyên chế đều dùng những phương pháp sau này; báo chí muốn xuất bản cần phải có phép của chính phủ, chính phủ có quyền cấm xuất bản hay là thu giấy phép về, bài vở đăng báo cần phải qua phòng kiểm duyệt, phòng ấy cho phép mới được đăng; người quản lý một tờ báo phải có tiền bảo đảm, báo chí phải chịu thuế nặng; mở nhà in phải có bằng cấp và phải được chính phủ cho phép. Những phương pháp ấy có khi cũng dùng một lúc, có khi chỉ dùng một vài. Như ở Đông Dương, ngoài Nam kỳ là thuộc địa không kể, còn thì báo chí muốn xuất bản cần phải được phép của chính phủ, nhưng hiện giờ thì phòng kiểm duyệt đã bãi bỏ và sự đảm bảo bắt buộc và thuế khóa thì báo chí không phải chịu.

Nhưng, như ta đã nhận rõ, tự do không phải là phóng túng. Những sự vọng dụng không thể là một cớ để quyết án một quyền tự do. Những phương pháp đề phòng trên kia chỉ là một cách làm cho chính phủ nắm quyền lập dư luận vào trong tay, đàn áp những tư tưởng không hợp với chính kiến của mình, nghĩa là chỉ là một cớ khi chính phủ dùng để đàn áp sự tự do ngôn luận.

Vì vậy, cuộc Đại cách mệnh Pháp, khi bãi bỏ mọi sự đàn áp quyền lợi của công dân, tuyên bố rằng: phàm là công dân, ai cũng có quyền nói, viết, in trong sự tự do, miễn là phải chịu trách nhiệm khi vọng dụng sự tự do ấy trong những trường hợp luật nước định.

Nguyên tắc ấy là nguyên tắc những nước dân chủ, đều tôn kính khi đặt ra luật để tố chức chế độ báo chí. Xuất bản báo chí sẽ được hoàn toàn tự do, miễn là có người chịu trách nhiệm về những bài viết có thể phương hại đến danh dự người khác hay đến pháp luật. Không có một phương pháp đề phòng nào nữa, chỉ có những đạo luật định phạt những sự vọng dụng có thể xảy ra.

Một thí dụ: nước Pháp, Đạo luật ngày 29 tháng 7 năm 1881 về chế độ báo chí đã theo đúng nguyên tắc ấy. Không có phương pháp đề phòng nào. Những giấy in để cho công chúng đọc chỉ cần phải có biên tên và trụ sở của người in. Báo chí xuất bản không cần xin phép ai, chỉ cần phải có một tờ khai lên tờ báo, tên và chỗ ở của viên quản lý và của nhà in đệ ra phòng biện lý. Mỗi tờ báo cũng cần có biên tên của quản lý và một bản ra nha đốc lý. Những phương cách ấy không có tính cách đề phòng, mà chỉ cốt để định rõ người nào phải chịu trách nhiệm đối với pháp luật, nếu có xảy ra sự vọng dụng.
Những sự vọng dụng ấy cần phải định rõ từng khoản, một là để nhà báo biết đường mà trách, hai là để cho hợp với một nguyên tắc rất hay của luật pháp, không có tội gì mà không có luật định. Thí dụ như những sự phỉ báng hay mạ lỵ, xui giục phạm pháp, làm bại hoại phong hóa, v.v… định rõ trong đạo luật 1882.

Xem như ví dụ như vậy thì luật 1881 đã hết sức che trở cho sự tự do ngôn luận trong nước Pháp. Tuy nhiên, trong nước ấy, không phải ai ai cũng có thể xuất bản được một tờ báo, vì muốn thế, cần phải có đủ tiền tài để mua nhà in, trữ giấy, trả công thợ. Thế cho nên, người ta đã có thể chỉ trích rằng tự do báo chí ở bên Pháp chưa được hoàn toàn, dư luận ở đấy chỉ là dư luận của những ông chủ báo giàu có. Ngôn luận như vậy, chỉ được hoàn toàn tự do khi mà bất cứ một người công dân nào cũng có thể có máy in, giấy vở để in những tư tưởng của mình.

Tuy nhiên, trong khi đợi các ngày đẹp đẽ lý tưởng ấy, chế độ báo chí ở Pháp đối với ta cũng là một chế độ bảo vệ sự tự do ngôn luận rất mực rồi.

Ghi chú:
1) Vọng dụng: lạm dụng, dùng bừa, dùng bậy, quá lố

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

CÁC NGUYÊN LÝ CỦA NỀN PHÁP QUYỀN

nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_principles_vii.html
Trong hầu hết lịch sử nhân loại, giai cấp thống trị và luật pháp đồng nghĩa với nhau, luật pháp đơn giản chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Bước đầu tiên để thoát khỏi chính thể chuyên chế đó là khái niệm pháp quyền, kể cả khái niệm kẻ thống trị cũng phải tuân thủ luật pháp và phải cai trị bằng các công cụ pháp luật. Các nền dân chủ đi xa hơn bằng việc xây dựng pháp quyền. Mặc dù bất cứ xã hội hay hệ thống chính phủ nào cũng đều có vấn đề, nhưng pháp quyền bảo vệ các quyền chính trị, xã hội và kinh tế cơ bản và nhắc nhở chúng ta rằng chính thể chuyên chế và vô luật pháp không phải là những lựa chọn duy nhất.
  • Pháp quyền có nghĩa là không một cá nhân nào, dù là tổng thống hay công dân, được đứng trên luật pháp. Các chính phủ dân chủ thực thi quyền lực bằng luật pháp và bản thân họ cũng phải chịu những hạn chế của luật pháp.
  • Luật pháp phải thể hiện ý chí của nhân dân, chứ không phải ý muốn của các vị hoàng đế, những nhà độc tài, các tướng lĩnh, chức sắc tôn giáo hay các đảng phái chính trị tự phong.
  • Công dân ở các nền dân chủ sẵn sàng tuân thủ luật pháp của xã hội bởi vì họ đang tuân thủ chính những nguyên tắc và quy định của họ. Công lý đạt được một cách hoàn thiện nhất khi luật pháp được xây dựng bởi chính người dân, những người phải tuân thủ luật pháp.
  • Theo pháp quyền, một hệ thống toà án độc lập và vững mạnh phải có sức mạnh, quyền lực, các nguồn lực và uy tín để buộc các quan chức chính phủ, kể cả những nhà lãnh đạo cao nhất phải chịu trách nhiệm trước các quy định và luật pháp của quốc gia.
  • Vì thế các thẩm phán phải là những người được đào tạo tốt, có chuyên môn, độc lập và vô tư. Để thực hiện được vai trò quan trọng của họ trong hệ thống chính trị và pháp lý, các thẩm phán phải trung thành với các nguyên tắc dân chủ.
  • Luật pháp của một nền dân chủ có thể có nhiều nguồn: hiến pháp thành văn, các bộ luật và quy định; các giáo huấn tôn giáo và sắc tộc; các thông lệ và truyền thống văn hóa. Dẫu có nguồn gốc gì đi nữa, luật pháp phải có những quy định bảo vệ các quyền và sự tự do của công dân:
    • Theo yêu cầu được bảo vệ bình đẳng trước luật pháp, luật pháp không được áp dụng riêng cho bất cứ cá nhân hay nhóm người nào.
    • Công dân không bị bắt giữ tuỳ tiện, nhà cửa không bị khám xét mà không có lý do chính đáng hoặc không bị tịch thu tài sản cá nhân.
    • Công dân phạm tội phải được xét xử công khai và nhanh chóng, được đối diện và chất vấn những người cáo buộc. Nếu bị kết án, họ có thể không phải chịu những hình phạt dã man và hoặc bất thường.
    • Công dân không bị ép buộc phải nhận tội. Nguyên tắc này bảo vệ cho công dân khỏi bị ép buộc, lạm dụng hoặc đánh đập và giảm đáng kể tình trạng cảnh sát sử dụng những biện pháp đó.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

Charlie Hebdo - từ bạo dâm đến tự do ngôn luận

Hồi sinh viên mới sang Pháp, một lần tình cờ thấy một tờ Charlie Hebdo (Charlie hàng tuần) ai đó bỏ lại trên tàu điện ngầm. Đó là lần đầu tiên mình biết đến tờ tuần báo chuyên về biếm họa này.

Đập ngay vào mắt là hình vẽ một người đàn ông khỏa thân, hậu môn tóe máu vì bị cưỡng hiếp. Không nhớ rõ là câu chuyện như thế nào, nhưng riêng hình ảnh đó đã làm mình cảm thấy tởm lợm. Từ đó mình coi tờ báo này là một thứ cặn bã văn hóa và không quan tâm đến nữa.

Năm 2011, mình hoàn toàn dửng dưng khi biết trụ sở của tờ báo bị đốt trụi bằng bom xăng trong đêm trước ngày ra một số báo có đăng một loạt ảnh châm biếm Mohamed. Chỉ thấy đó một kết cục hợp lý cho bọn rỗi hơi chuyên đi châm chọc người khác bằng những hình ảnh thô thiển.

Đầu năm 2015, đang làm việc thì biết tin một số phần tử hồi giáo cực đoan xông vào tòa soạn giết chết 12 người. Lần này thì to chuyện rồi, nhưng cũng không hoàn toàn bất ngờ. Những cuộc chiến ở Syria, Iraq, Afghanistan đã tạo ra rất nhiều chiến binh thánh chiến tử vì đạo. Bọn này đã nhiều lần đe dọa sẽ tấn công nước Pháp. Charlie Hebdo, sau vài lần bị dằn mặt nhưng vẫn tiếp tục khiêu khích, có vẻ như đã tự biến mình thành một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu cho khủng bố. Kết cục thật bi thảm, nhưng dường như có thể đoán trước được.

Điều mình không thể đoán trước được, đó là phản ứng của người Pháp.

Trên Twitter suốt cả ngày hôm đó, các chính trị gia liên tục chia buồn và bày tỏ cảm xúc bằng những từ vựng mà mình chưa bao giờ từng nghe.

Lãnh đạo các đảng phái, từ hữu sang tả, thường ngày chửi nhau như ngóe, hôm nay đứng cạnh nhau để kêu gọi đoàn kết toàn dân trước mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố. Mình đã thật sự xúc động khi nhìn thấy hình ảnh cựu tổng thống Sarkozy đến điện Élysée gặp tổng thống Hollande để bàn về những hành động tiếp theo. Hai nhân vật chỉ mới vài năm trước vẫn còn là tử thù chính trị của nhau.

Và đêm hôm đó, trong bầu không khí hoang mang căng thẳng (vì chưa bắt được hung thủ và vì những vụ tấn công khác, lần này có thể bằng bom, vẫn hoàn toàn có thể xảy ra) hàng vạn người đã đổ ra đường trong tất cả các thành phố lớn để tưởng niệm các nạn nhân. Họ thắp nến và cầm theo dòng chữ “Je suis Charlie” – Tôi là Charlie.

Đã có lúc mình tự hỏi, phản ứng như thế liệu có hơi thái quá chăng ?

Tấn công khủng bố ở Paris, 12 người chết và vài người bị thương !

Kể ra thì có đáng gì với những vụ khủng bố trước đó. Luân Đôn năm 2005 : 56 người chết, 700 bị thương. Madrid năm 2004 : 191 người chết, 2000 bị thương. New York 2001 : 3000 người chết, 6000 bị thương.

Ok, những người chết trong các vụ trước đó chỉ là dân thường. Còn ở Paris là các nhà báo. Nhưng nhà báo thì đã sao? Cũng chỉ là nhân viên của một tờ báo nhảm nhí, số lượng phát hành hàng tuần chưa tới 50 ngàn tờ. Để so sánh, những tờ nhật báo lớn, số lượng phát hành hàng ngày đã gấp 10 lần con số đó. Còn trong số hàng trăm tờ tuần báo ở Pháp, 30 tờ có số lượng phát hành hàng tuần lớn hơn 1 triệu bản, nghĩa là gấp 20 lần Charlie Hebdo.

Đưa ra những con số để thấy Charlie Hebdo là một tờ báo nhỏ, rất ít độc giả. Thậm chí trong những năm 1980 tờ báo có ít độc giả đến nỗi phải đóng cửa suốt gần 10 năm liền. Tóm lại là dân Pháp chả mấy ai thèm đọc. Vậy mà đến khi người ta bị bắn chết lại đổ ra đường vỗ ngực xưng “Tôi là Charlie”. Rốt cuộc, câu đó nghĩa là gì ?

Dần dần mình cũng hiểu ra ý nghĩa của câu đó, và hoàn toàn thay đổi cách nhìn đối với Charlie Hebdo.

Tuy những vụ ầm ĩ nhất là những vụ liên quan đến Hồi giáo, nhưng thật ra Charlie Hebdo châm biếm đả kích vào tất cả mọi thứ, từ những vấn đề trong thời sự hàng ngày cho đến chính trị và tôn giáo.

Về chính trị, họ có thể đả kích tất cả các đảng phái, tất cả các chính trị gia. Chính điều đó đã khiến tờ báo bị chính quyền đình bản nhiều lần. Sau mỗi lần họ đều tìm cách trở lại, và còn lợi hại hơn xưa.

Tương tự, họ cũng có thể châm biếm tất cả các tôn giáo, trong đó nặng nề nhất là Thiên Chúa giáo. Những châm biếm đối với Hồi giáo chỉ là một phần rất nhỏ trong các hoạt động của tờ báo, hơn nữa họ chỉ nhắm đến Hồi giáo cực đoan và khủng bố chứ không phải là đạo Hồi nói chung.

Những cây bút của tờ báo, điển hình là giám đốc xuất bản Stéphane Charbonnier (bút danh Charb), được biết đến như những người không theo khuynh hướng chính trị nào, không có đức tin nào, không có thần tượng nào. Họ hoàn toàn không có ràng buộc nào về mặt tư tưởng. Hoàn toàn tự do. Chính cái tự do đó là điều họ muốn bảo vệ.

Thật ra, tự do ngôn luận không giới hạn chưa bao giờ tồn tại. Trong tất cả các hình thái nhà nước, giới cầm quyền luôn đưa ra những điều luật để giới hạn cái tự do nó lại. Chẳng hạn ở Pháp, nước tiên phong về tự do ngôn luận, bạn không được quyền nói những điều kích động hận thù sắc tộc, tuyên truyền khủng bố, phủ nhận diệt chủng, không được vu khống, lăng mạ người khác, etc. Nói chung tự do ngôn luận ở bất kỳ đâu cũng đều bị giới hạn, chỉ khác nhau ở chỗ bị giới hạn ít hay nhiều thôi.

Bây giờ nếu tưởng tượng ở một nước nào đó, tự do ngôn luận là một vòng tròn, bạn chỉ có thể nói những điều ở bên trong vòng tròn và không được ra ngoài, nếu cố tình bước ra ngoài sẽ bị trừng phạt : tiền, tù, hoặc bắn bỏ. Tuy rằng chỉ khi bước ra ngoài mới bị trừng phạt, nhưng vì đường phân cách đôi lúc không rõ ràng, nên để cho chắc ăn, phần lớn sẽ rút sâu vào bên trong vòng tròn : nói những điều vô thưởng vô phạt, không đụng chạm gì đến ai. Chỉ một số ít người có đủ dũng cảm để tiến sát đến đường biên giới, thậm chỉ thỉnh thoảng thò một chân ra ngoài.

Charlie Hebdo chính là những người như thế. Họ sống thường trực ở biên giới của đường tròn tự do ngôn luận. Chính vì thế trong suốt quá trình tồn tại, họ phải đối mặt với vô số áp lực, vô số vụ kiện. Và cũng vì thế mà họ được coi như một thứ hàn thử biểu của tự do ngôn luận ở Pháp.

May mắn là trong phần lớn các vụ kiện, họ đều thắng. Mỗi lần như vậy, chiến thắng không chỉ của riêng họ mà là của tự do ngôn luận trên cả nước Pháp.

Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp hơn với Hồi giáo cực đoan. Với bọn này thì không có luật lệ hay kiện cáo gì cả. Vụ phá hoại trụ sở năm 2011 là một lời cảnh cáo. Tờ báo đứng trước hai lựa chọn, hoặc là thôi không vẽ hình Mohamed nữa. Hoặc là tiếp tục.

Nếu chọn con đường thứ nhất, họ sẽ được an toàn trong thế giới văn minh, đồng thời hoạt động của họ cũng không bị ảnh hưởng gì vì đó chỉ là một chủ đề nhỏ, hơn nữa không vẽ Mohamed thì họ vẫn có cách khác để công kích Hồi giáo cực đoan.

Nhưng họ đã chọn con đường thứ hai. Ngay ngày hôm sau họ đăng một loạt ảnh Mohamed. Charb nói “Nói ra nghe có vẻ đao to búa lớn chứ tôi thà chết đứng còn hơn là phải sống quỳ”. Anh bị liệt vào danh sách kẻ thù đạo Hồi của Al-Qaida và bị dọa giết hầu như mỗi ngày.

Mohamed hết chịu nổi bọn cực đoan.

Thật là khổ sở khi bị bọn dở hơi hâm mộ.Mohamed hết chịu nổi bọn cực đoan. Thật là khổ sở khi bị bọn dở hơi hâm mộ.

Trước những đe dọa đó, họ vẫn tiếp tục hoạt động ở vùng rìa đường tròn. Tiếp tục nói những điều hợp pháp nhưng không ai khác dám nói và thỉnh thoảng lại đăng hình Mohamed.

Ngày 7 tháng 1 năm 2015, Charb bị giết bằng AK47, cùng 4 họa sĩ khác khi đang họp để chọn bài đăng báo.

Những người sống sót quyết định sẽ tiếp tục đi theo con đường đã chọn.

Chỉ có điều lần này họ sẽ không còn đơn độc. Họ có sau lưng tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các chính trị gia (những người thường xuyên bị họ công kích), cùng hàng triệu người dân Pháp ủng hộ. Đó chính là ý nghĩa của câu “Tôi là Charlie”.

“Tôi là Charlie” nên tôi yêu tự do và tôi quyết tâm bảo vệ tự do của mình. “Tôi là Charlie” nên muốn giết chết Charlie, phải bước qua xác của tôi.

Đến đây thì câu hỏi “tại sao những người trước đây vốn chẳng đếm xỉa gì đến Charlie Hebdo bây giờ lại xuống đường ủng hộ” có lẽ cũng được trả lời luôn rồi. Có thể bạn cũng thấy bóng dáng Voltaire và câu nói “Tôi chả quan tâm anh nói cái gì, nhưng tôi sẽ dùng cả mạng sống của mình để bảo vệ quyền được nói của anh.” Thật ra thì đây là một sự nhầm lẫn, Voltaire chưa bao giờ viết câu này. Nhưng rõ ràng là không cần đến Voltaire, bất kỳ ai yêu tự do cũng đều hiểu rằng tự do là một giá trị chung của tất cả mọi người, tự do của anh cũng chính là tự do của tôi, người ta đe dọa tự do của anh tức là cũng đang đe dọa tôi, do đó cho dù không quan tâm anh nói cái gì tôi vẫn phải bảo vệ tự do của anh.

Truyền thông nước ngoài khi đưa tin vụ Charlie Hebdo nhiều khi quá chú trọng vào khía cạnh hồi hộp, giật gân, những màn bắn súng rượt đuổi bao vây, etc. Nếu chỉ chú trọng vào những tình tiết gay cấn đó thì hẳn là sẽ khó giải thích được tại sao một tờ báo “nhảm nhí” như Charlie Hebdo lại có thể gắn kết tất cả người Pháp lại với nhau như vậy.

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2015

Charlie Hebdo, tự do quá đáng?

Libertas, tượng Pháp trên đất MỹLibertas, tượng Pháp trên đất Mỹ

Tự do ngôn luận thường được coi như một nhân quyền bất khả xâm phạm. Nhưng tại sao thế? Tại sao ta cần có tự do ngôn luận? Trên thực tế thì mọi quyền của con người trong một nước dân chủ đều là một sự thoả thuận của người dân. Một sự thỏa thuận mà họ tin sẽ làm xã hội ngày càng ôn hòa, tiến bộ hơn. Chúng ta nên thỏa thuận như thế nào về quyền tự do ngôn luận để đạt được mục tiêu chung này?

Quyền tự do ngôn luận chỉ có ý nghĩa khi sự diễn đạt cụ thể gây ra căm tức cho đa số trong xã hội, nếu là xã hội dân chủ; hay xúc phạm đến chính quyền, nếu là chế độ độc tài. Không ai cần có quyền tự do ngôn luận để tán thưởng Đảng Cộng Sản Việt Nam tại Hà Nội hay biếm nhẽ Hồ Chí Minh tại Orange County, California. Vì thế mà sự xúc phạm cũng như những giá trị đạo đức phổ cập không phải là cơ sở hợp lý để xác định giới hạn của quyền tự do ngôn luận.

Hiến pháp Mỹ khẳng định rằng chính quyền không được phép ra đạo luật ủng hộ hay ngăn chận những hoạt đông tôn giáo, hoặc giới hạn tự do ngôn luận. Đây là một tư tưởng đặc thù của xã hội và luật pháp Mỹ. Trước Mỹ, mọi nước đều có tôn giáo gắn liền với chính quyền. Quyết định đúng sai về tư tưởng và biểu đạt là thẩm quyền của các nhân vật lãnh đạo tôn giáo và chính quyền. Người dân cứ theo họ mà nói cho phải phép. Một lời trái ý bề trên cũng có thể phạm pháp. Từ ngày lập quốc, một tư tưởng chủ đạo của nước Mỹ là mọi người, trên nguyên tắc, đều có quyền tự do chọn lựa bất cứ điều gì mình thích để trao đổi, để tin, để phổ biến.  Đây một thái độ triệt để bình đẳng và dân chủ của con người độc lập, vừa khiêm tốn vừa ngạo nghễ: Ta không dám ép buộc ai, và cũng không chấp nhận ai ép buộc ta phải suy nghĩ, diễn đạt như thế nào.

Thomas Jefferson cho rằng mọi người đều phải được có cơ hội tiếp cận những suy tư khác nhau trong thị trường tư tưởng (market of ideas) để chọn lựa đúng sai cho chính mình. Không có gì phải sợ những sai lầm trong quan điểm khi mà lý trí được tự do suy xét và lên tiếng phản biện. Đây là cơ sở khiến Hiến pháp Mỹ có ngôn ngữ rộng gần như tuyệt đối để bảo vệ tự do ngôn luận. Lịch sử Mỹ thường có trường hợp một địa phương bị xúc phạm vì một biểu đạt nào đó và ra luật cấm. Thế là có người cố tình vi phạm để ra tòa thách thức sự hợp hiến (Constitutionality) của luật cấm này. Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã bát bỏ nhiều đạo luật giới hạn tự do ngôn luận.

Luật Mỹ ngày nay bảo vệ quyền tự do ngôn luận gần như tuyệt đối. Những biếm họa của Charlie Hebdo thuộc dạng ngôn luận được tự do (free speech) tại Mỹ. Tòa án Mỹ sẽ bác bỏ đơn kiện họ. Chính phủ Mỹ không được phép ngăn cản họ. Rộng hơn nữa, khác với luật Pháp và nhiều nước ở châu Âu, ngôn ngữ kỳ thị chủng tộc như chống người da đen, bài người Do Thái, những biểu đạt cuồng loạn như ca ngợi Hitler, tuyên truyền Phát-xít v.v… đều là "ngôn luận được bảo vệ" theo luật Mỹ. Hate Speech IS Free Speech - Xứ sở của Thomas Jefferson đã đi quá đà chăng khi ta nhìn lại những gì đã xảy ra quanh sự kiện Charlie Hebdo? Nước Pháp nên giới hạn tự do ngôn luận không cho phép báng bổ đức tin chăng?

Không. Ngược lại. Xứ sở của Voltaire cần nên có tự do ngôn luận như tại Mỹ.

Trước hết, trong một xã hội pháp quyền, trên cán cân của luật pháp chỉ có một vấn đề duy nhất: Hợp pháp hay phạm pháp. Cấm hay không cấm. Trong một xã hội đa nguyên, luật pháp càng dựa nhiều vào những suy luận khách quan, càng ít phụ thuộc vào những giá trị đạo đức chủ quan thì lại càng được tôn trọng vì tạo được niềm tin là luật pháp công bằng. Thay vì bạo hành, ta càng muốn giải quyết xung đột bằng cách tranh cãi trước tòa. Để được thế, mọi giới hạn ngôn luận phải được thiết lập trên những nguyên tắc khách quan chung. Khi đã không có cùng những tiên kiến, những quan điểm và giá trị cá nhân về tôn giáo, chính trị, và văn hóa, chúng ta rất khó có thể đồng ý thế nào là “xúc phạm quá đáng” cần phải cấm. Đốt lá quốc kỳ và giễu nhại đức tin, hành động nào xúc phạm hơn? Đối với ai?

Tất nhiên ta có thể thỏa thuận với nhau để cùng giới hạn những ngôn luận xúc phạm đến nhiều người. Trong cái xã hội đầy ké né ấy, sẽ ít người bị xúc phạm và cũng chẳng mấy ai sẽ cười. Cái tệ hại nhất của cách ra luật giới hạn ngôn luận theo cảm tính thế này có lẽ đã đựợc tóm gọn trong câu nói đùa của người Mỹ: Muốn có khái niệm về văn chương giá trị và đầu óc hẹp hòi của dân Mỹ thì chỉ cần đọc những tác phẩm đã từng bị cấm ở Mỹ.

Nước Pháp cần thay đổi luật bảo vệ tự do ngôn luận. Nhưng không nên đổi bằng cách cấm nhạo báng đức tin như nhiều người, trong số đó nổi bậc nhất là Giáo Hoàng Francis, đã lên tiếng. Ngược lại, Pháp nên nới rộng tự do ngôn luận như ở Mỹ. Trừ trường hợp gây thiệt hại cụ thể cho người khác hay có khả năng gây rối loạn trước mắt như tuyên bố có bom trong phi trường, hỏa hoạn trong rạp hát... còn thì ai muốn nói gì, viết gì, vẽ gì cũng được tự do tùy thích, tuỳ theo tâm hồn và nhận định cá nhân của mỗi người.

Một hành động hợp pháp dĩ nhiên không có nghĩa là một hành động nên làm, chỉ có nghĩa “làm hay không” là một quyết định cá nhân. Một vài nghệ sĩ Mỹ như Tim Parks và Joe Sacco đã lên tiếng nghi ngờ cái giá trị nếu không nói là đả kích cái nội dung của những biếm họa Charlie Hebdo. Nhưng họ vẫn không đề nghị cấm những biểu đạt như thế. Họ phân biệt rõ ràng giữa quyền được nói và nội dung câu nói. Đây là một điều hiển nhiên với người Mỹ. Họ dĩ nhiên có quyền vẻ biếm họa như Charlie Hebdo hay còn đụng chạm hơn nữa tại Mỹ nhưng họ đã chọn không làm thế, một quyết định cá nhân không phải vì bị ràng buộc bởi luật pháp.

Giới hạn tự do ngôn luận là một việc làm nghiêm trọng, không thể theo cảm xúc nhất thời. Tự do đã được ví như một bức tường đá. Vỡ một tảng đá có thể hỏng cả bức tường. John F. Kennedy và Nelson Mandela đã từng nói rằng "tự do không thể bị phân chia".  Nhà văn Salman Rushdie đã nhắc lại cái khái niệm này để tuyên bố rằng hoặc là có tự do ngôn luận, hoặc là không chứ không thể giới hạn. Rushdie từng bị thủ lãnh Hồi giáo Khomeni ra lệnh đòi giết vì tác phẩm "The Satanic Verses". Ông đã đứng lên hùng hồn bảo vệ quyền tự do diễn đạt làm người Hồi giáo cảm thấy bị xúc phạm của Charlie Hebdo. Hình như Rushdie quên mất rằng Charlie Hebdo không có quyền vẻ tranh kỳ thị người Do Thái. Tại sao “kỳ thị chủng tộc” thì bị cấm mà “báng bổ tôn giáo” thì không? Đây chính là sự khó khăn về lý luận trong cách giới hạn tự do ngôn luận hiện nay tại Pháp.

Tự do ngôn luận không thể bị giới hạn như Salman Rushdie đã dõng dạc tuyên bố. Điều khôi hài là không phải chỉ có những thủ lãnh tôn giáo, vốn không hề giương cao ngọn cờ tự do ngôn luận, mà ngay chính những hậu duệ của Voltaire cũng đã cắt xẻ, đã giới hạn tự do ngôn luận. Có thể nói rằng Pháp đã không thật sự bảo vệ quyền tự do ngôn luận mà chỉ bảo vệ truyền thống và sở thích của số đông, đã chấp nhận "sự độc tài của đa số". Đất nước của Descartes, của Voltaire có thể dùng lý trí để thắng được cảm tính của số đông để bảo vệ quyền tự do ngôn luận không? Nước Mỹ đã làm được điều đó.

Đốt cờ Mỹ, một hành động xúc phạm đến đại đa số người Mỹ, chừng như không có một giá trị nghệ thuật, chính trị nào, vẫn được bảo vệ bởi quyền tự do ngôn luận. Đa số dân Mỹ đòi cấm. Quốc hội Mỹ đã ra luật cấm và tổng thống Bush (cha) đã hoan hỉ ký. Thế là có nhiều người đem cờ ra đốt ngay để bị bắt và có thể kiện lên Tối Cao Pháp Viện. Tòa tuyên bố không thể cấm vì đó là quyền tự do ngôn luận trong Hiến pháp. Đa số dân Mỹ không đồng ý, và cho đến gần đây (2006) nhiều dân biểu vẫn cố chống quyết định của Tòa bằng cách hô hào sửa đổi Hiến pháp. Mấy tay chính trị gia này đã thất bại. Một thiểu số người Mỹ đã sáng suốt thấy rằng tự do ngôn luận quan trọng hơn một biểu tượng của tự do, dù đó là lá cờ từng được giữ gìn bằng xương máu. Cách đây không lâu, khi báo chí đưa tin một số người Nga đem cờ Mỹ ra làm thảm chùi giày, phản ứng chung của người Mỹ là chê họ ấu trĩ và cảm thấy buồn cười hơn là nóng giận.

Vì có quyền tự do ngôn luận gần như tuyệt đối mà mọi thành kiến, hận thù, xung khắc đều được đem ra tranh cãi. Ai muốn nói gì thì nói. Tán thưởng khủng bố, cổ súy cho bạo lực cũng được, chỉ cấm không được dùng bạo lực hay đe dọa dùng bạo lực. Những tư tưởng cao đẹp, tốt lành từ mọi phía sẽ dần dà được chấp nhận một cách tự nhiên như Thomas Jefferson đã suy luận. Để có được một thị trường tư tưởng tự do, xã hội Mỹ đã phải tranh đấu với chính mình và đã chịu trả cái giá của tự do ngôn luận, một cái giá mà không phải người nào, xã hội nào cũng chịu trả.

Hầu hết ai trong đời cũng có lần muốn tát tai một đứa bé xấc xược. Tệ nạn vũ phu trong gia đình ở đâu cũng có. Khuynh hướng dùng bạo lực khi cảm thấy bị xúc phạm, dù là (bạo) lực của luật pháp để cưỡng chế trong xã hội văn minh, có lẽ chỉ là bản chất con người. Tự do ngôn luận đòi hỏi phải chấp nhận cái giá bị xúc phạm mà không được chống lại bằng bạo lực.

Quan trọng hơn trong thực tế, ngôn luận bất bạo động có thể gây ra bạo động. Nhân loại đã từng chứng kiến những cảnh thảm sát gây ra bởi những tư tưởng khích động hận thù, những lời hô hào, kêu gọi chém giết. Để bảo vệ an ninh quốc gia cũng như an toàn cá nhân trong cộng đồng mà không xâm phạm quyền tự do ngôn luận, chính quyền Mỹ đã ráo riết theo dõi, điều tra chận bắt mọi manh nha bạo loạn. Quyền riêng tư (privacy rights) nhiều khi bị vi phạm, càng ngày càng dễ dàng và càng khó nhận biết với kỹ thuật tiến bộ. Đây cũng là một cái giá của tự do ngôn luận.

Độc tài luôn luôn tìm cách chống phá, hạn chế tự do ngôn luận. Điều này hiển nhiên đến nhàm trong mọi chế độ toàn trị. Nhưng những xã hội dân chủ, như Pháp, cũng không nhất thiết đã thoát được sự "độc tài của đa số". Cơ chế luật pháp và chính quyền của Mỹ đã khá hữu hiệu trong việc bảo vệ tự do ngôn luận tuyệt đối, một trong những yếu tố chính để nước Mỹ ngày càng hùng mạnh và càng đa dạng với dân tứ xứ.

Xứ Mỹ, muốn “nhập gia" thì phải tuyên thệ “tùy tục". Mỹ chỉ đòi hỏi một "tục" duy nhất là tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp Mỹ, trong đó tự do ngôn luận đứng đầu (có thể nói bao gồm tự do tôn giáo). Theo Hiến pháp, tự do không thể bị hạn chế chỉ vì đụng chạm đến những khái niệm về truyền thống, văn hóa, tôn giáo, hay ngay cả tổ quốc. Mọi người, trên nguyên tắc, đều được tự do sống theo ý mình, theo chủ quan của truyền thống, đức tin, và văn hóa cá nhân mình, miễn là không gây thiệt hại cụ thể cho người khác. Trong thực tế, Mỹ là một nước ô hợp với trình độ dân trí chung không cao hơn ai, máu bạo động cũng không kém ai, và đã có nhiều làn sóng kỳ thị người nhập cư trong lịch sử... Nhưng vì tinh thần tôn trọng tự do, đặt biệt là tự do ngôn luận, mà xã hội Mỹ ngày càng có nhiều cảm thông giữa những người vốn rất khác nhau.

Khi nhìn vào nước Pháp, một công dân Mỹ có lý do để cho rằng chính quyền Pháp chú trọng vào việc bảo vệ văn hóa Pháp và chuẩn mực của xã hội Pháp hơn là quyền tự do ngôn luận. Người Pháp hình như đã chấp nhận sự giới hạn của tự do ngôn luận trong khuôn khổ của truyền thống văn hóa Pháp. Giới hạn tự do ngôn luận như thế khiến  luật pháp mang màu sắc phân biệt văn hóa thay vì tạo điều kiện để lý trí tự do suy luận và chọn lựa theo tinh thần của Jefferson. Nói một cách chính xác, đấy không phải là tự do ngôn luận đúng nghĩa. Thái độ về tự do ngôn luận của Mỹ thích hợp hơn cho một xã hội đa nguyên. Nhưng...

Pháp có một nền văn hóa lâu đời. Thế giới không cần có một nước Mỹ thứ hai bằng có một nước Pháp đầy bản sắc Pháp. Luật Pháp, người Pháp, chính quyền Pháp hoàn toàn hợp lý và không kém văn minh khi muốn bảo vệ truyền thống văn hóa Pháp như thế. Giới hạn của tự do ngôn luận qua cái nhìn chủ quan của một xã hội, " sự độc tài của đa số", cũng là một cái giá phải trả để bảo vệ truyền thống văn hóa. Khó có thể lý luận rằng cái giá đó quá cao khi nền văn hóa cần được bảo vệ lại văn minh, nhân bản và rực rỡ như văn hóa Pháp. Nhưng ta có thể tin rằng Pháp sẽ còn nhiều xung đột, dễ bị những kẻ quá khích lợi dụng vì nuớc Pháp ngày nay đã có ít nhất là hai luồng văn hóa khác nhau.

(À này, xin có đôi lời cùng một số đồng chí đồng hương. Những giới hạn ngôn luận của Pháp tuy chủ quan nhưng vẫn dựa trên một cơ sở văn minh, nhân bản chứ không phải vì lý do hèn nhát, man rợ như thời Trung cổ của các đồng chí đâu nhé. Và thứ duy nhất các đồng chí bảo vệ bằng cách tuỳ tiện chà đạp quyền tự do ngôn luận chỉ là xôi thịt của các đồng chí chứ không phải văn hóa, văn minh Việt Nam gì đâu đấy nhé. Không lừa được ai đâu.)
nguồn: https://www.facebook.com/notes/chanh-nguyen/charlie-hebdo-tự-do-quá-đáng/1018236004856846
tham khảo thêm: https://www.facebook.com/10152957842029654

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

Tại sao từ chối Quyền im lặng?

Luật sư Ngô Ngọc Trai
Giới tư pháp đang bàn luận sôi nổi về quyền im lặng, nhiều ý kiến tranh cãi xem có nên đưa quy định này vào luật hay không.
Xét kỹ thì thấy quyền im lặng chính là một quyền tự do dân chủ của công dân, nếu được triển khai vào luật thì đó sẽ là một bước tiến của nền dân chủ.
Quyền dân sự và chính trị
Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc ra đời năm 1966 mà Việt Nam ký kết tham gia năm 1982 đã viết rằng: Trong các vụ án hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những đảm bảo tối thiểu sau đây: Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
Như vậy nếu không phải là chối cãi theo kiểu chày cối quá đáng thì có thể thấy ngay quyền im lặng là quyền công dân và là quyền con người.
Vấn đề là các nội dung điều khoản của Công ước quốc tế có được lĩnh hội và khai triển vào hệ thống pháp luật trong nước hay không. Có được tôn trọng và thực thi triệt để hay là chỉ là áp dụng quanh co nửa vời.
Ví như cũng Công ước trên có nội dung rằng trong các vụ án hình sự, các bị cáo được hưởng đảm bảo tối thiểu là được xét xử mau chóng, không kéo dài quá đáng.
Nhưng nội dung này không được coi trọng khai triển vào luật, bằng nhiều các quy định pháp luật bất hợp lý, các vụ án hình sự ở Việt Nam thường bị giải quyết kéo dài.
Ví như vụ án Vườn Mít ở Bình Phước kéo dài 10 năm, vụ án Hàn Đức Long ở Bắc Giang kéo dài 9 năm và nhiều vụ án khác.
Vì sao không triển khai
Lý giải vì sao chưa thể triển khai quyền im lặng vào luật, ý kiến đưa ra là điều kiện thực tế ở Việt Nam chưa cho phép, tiêu biểu cho lối quan điểm này là phát biểu của ông Tiến sĩ Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong một bài đối thoại phỏng vấn trên báo Vietnamnet.vn ông này đã phát biểu:
“Đối với nước ta, cơ sở vật chất các cơ quan tư pháp còn gặp nhiều khó khăn, số lượng luật sư còn rất khiêm tốn, năng lực, trách nhiệm đội ngũ cán bộ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, đang trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động nên việc quy định “Quyền im lặng” như thế nào và lộ trình thực hiện ra sao cũng phải được xem xét thận trọng.
Để mỗi quy định của pháp luật khi được ban hành sẽ có sức sống trong xã hội, vừa bảo đảm quyền dân chủ công dân nhưng cũng phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.”
Người ta viện dẫn điều kiện thực tế khó khăn để lý giải việc chưa thể triển khai một chế định pháp lý văn minh tiến bộ.
Điều này cũng giống như việc người ta chối bỏ thực thi các quyền tự do dân chủ của công dân dựa vào lý do trình dộ dân trí chưa thể đáp ứng.
Nhưng thực ra đây chỉ là ngụy biện không chính đáng. Bởi lẽ người ta đã lật ngược nguyên nhân và kết quả.
Vì nếu có thiết chế về quyền im lặng, điều này sẽ buộc các cơ quan tư pháp nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Tránh tình trạng lười biếng trau dồi học hỏi dẫn đến yếu kém năng lực, và tránh việc sử dụng bức cung nhục hình như một phương pháp điều tra giải quyết án.
Nếu có quyền im lặng vai trò của người luật sư được nâng cao, khi bị cáo thấy được tính hữu dụng của người luật sư họ sẽ tìm kiếm nhờ luật sư bào chữa, nghề luật sư theo đó có động lực phát triển và số người hành nghề sẽ tăng lên.
Sự ngụy biện trong quyền im lặng cũng giống như trong vấn đề dân chủ. Người ta cho rằng dân trí thấp nên chưa thể cho thực thi các quyền dân chủ.
Nhưng đúng ra cần phải khai triển các quyền tự do dân chủ như quyền tự do báo chí, quyền tự do xuất bản, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do học thuật… sẽ giúp nâng cao trình độ dân trí và thăng tiến các giá trị con người.
Như thế có thể thấy thiết chế về quyền im lặng cũng như các thiết chế về các quyền tự do dân chủ khác đúng ra nó phải được triển khai để là bệ đỡ nâng cao và khai phóng tiềm năng giá trị con người, thì nay ngược lại người ta cho rằng chưa thể có các thiết chế đó vì điều kiện con người hiện tại chưa đáp ứng.
Vấn đề rộng lớn hơn
Lối ngụy biện tráo trở nguyên nhân và kết quả có nguyên do từ vị thế chỗ đứng mà người ta phán xét. Cái này lại có ngọn nguồn từ một vấn đề rộng lớn hơn mang tính thế giới quan ý thức hệ.
Các ý kiến cho rằng quyền im lặng không phải là quyền con người, hay quyền im lặng sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, hay cần dung hòa giữa việc cho phép thực thi các quyền công dân và nhu cầu đấu tranh xử lý tội phạm, tất cả có ngọn nguồn từ việc người ta không coi trọng các quyền công dân.
Bởi vì theo thế giới quan nhận thức của các cán bộ tư pháp hiện nay thì luật hình sự hay luật pháp nói chung, cũng giống như nhà nước chỉ là công cụ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị.
Theo đó mục tiêu của luật pháp không phải là bảo vệ các quyền công dân.
Cho nên dễ hiểu là quyền công dân có thể phải hy sinh vì một mục đích khác.
Ngược lại nếu nhận thức rằng quyền con người là tối thượng, pháp luật và việc xử lý tội phạm chỉ là công cụ phương tiện để bảo vệ quyền con người thì việc quy định và thực thi pháp luật như thế nào sẽ luôn phải soi xét xem nó có đi ngược lại với mục tiêu bảo vệ quyền con người hay không.
Tức là việc bảo vệ các quyền con người sẽ là kim chỉ nam, bảng biểu để đánh giá chấp nhận hay bác bỏ bất cứ một định chế nào.
Bộ phận quan liêu
Thực tế thì vấn đề thế giới quan ý thức hệ không phải luôn được đưa ra để ngăn trở thực thi các quyền tự do dân chủ.
Trong quá trình phát triển đi lên và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật phải hiệu chỉnh theo hướng dân chủ tiến bộ, tránh việc Việt Nam trở thành ốc đảo xa lạ như cách mà một số người vẫn nói.
Và đứng ở góc độ Đảng và Nhà nước mà xét thì quyền im lặng không có phương hại mà ngược lại nó khiến cho các cơ quan tư pháp cấp dưới có trách nhiệm hơn trong công việc, cũng tức là có trách nhiệm hơn trước Đảng và Nhà nước.
Lâu nay không quy định về quyền im lặng dẫn tới bức cung nhục hình và oan sai, xâm hại tới quyền tự do dân chủ của công dân. Điều này khiến dân chúng phẫn nộ, ảnh hưởng tới uy tín của Đảng và Nhà nước.
Hiện tại Đảng và Nhà nước cũng đang có chủ trương cải cách tư pháp, thực thất là đưa các giá trị dân chủ tiến bộ vào hệ thống tư pháp lâu nay vốn mang nặng yếu tố công cụ bạo lực của giai cấp.
Và chế định về quyền im lặng có lẽ là một dạng thức thể hiện cho thấy cải cách tư pháp là một chủ trương được thực hiện thực sự.
Nhưng không phải Đảng và Nhà nước cứ muốn là được.
Vấn đề quyền im lặng và chủ trương cải cách tư pháp cũng giống như nhiều chủ trương chính sách khác đều gặp phải lực cản.
Lực cản ở đây là sự ì trệ bảo thủ và vì quyền lợi ngành ích kỷ của bộ máy hành chính quan liêu. Họ bám giữ và bảo vệ thực trạng bất chấp những đòi hỏi chính đáng của dân chúng.
Nhiều chính sách cải tổ đưa ra bởi cấp cao nhất bị thất bại mà nguyên nhân chính là không thúc đẩy được hệ thống bên dưới dịch chuyển. Ví như các chủ trương như kê khai tài sản, chống tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm biên chế, đều không đi đến đâu.
Bước tiến của giá trị dân chủ
Nếu chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhận được sự ủng hộ của xã hội dân sự, đó sẽ là lực đẩy khiến cho giới hành chính quan liêu phải thay đổi.
Bằng việc giám sát và lên tiếng sẽ khiến cho lợi ích bất chính bị phanh phui, lợi ích chính đáng được sáng tỏ.
Nhưng muốn xã hội dân sự góp phần thúc đẩy các chủ trương chính sách tới thành công, thì Đảng và Nhà nước phải tăng cường các thiết chế tự do dân chủ, bởi đó là bệ đỡ và là phương tiện của xã hội dân sự.
Chính nhờ thực hiện các quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận, mặc dù còn hạn chế, cho nên những lợi ích chính đáng của những nhóm yếu thế mới có cơ hội được lên tiếng.
Cho nên vấn đề quyền im lặng không còn là sự dung hòa giữa việc cho phép thực hiện các quyền công dân với nhu cầu đấu tranh xử lý tội phạm, mà đó là biểu trưng cho sự đấu tranh giữa những suy nghĩ thành kiến, hẹp hòi, độc tài, phi dân chủ và các giá trị tự do dân chủ.
Và sự thành công hay thất bại quanh vấn đề quyền im lặng sẽ cho thấy quan điểm của Đảng và Nhà nước về ý nghĩa vai trò của xã hội dân sự, và thái độ chấp nhận hay bác bỏ các đòi hỏi dân chủ hóa đời sống đất nước chính đáng của người dân.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2014/10/141028_quyenimlang

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

Nội dung cơ bản của học thuyết tam quyền phân lập và ý nghĩa trong tổ chức hoạt động của nhà nước ta hiện nay


 Nguyễn Thị Thanh Nhàn
                                            Trường Chính Trị Thanh Hóa                                                         
                                     
Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung trong tay một cá nhân. Đây chính là căn nguyên của sự độc tài, chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Để chấm dứt chế độ này và đặt nền móng cho sự hình thành các thể chế tự do, dân chủ, một học thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết tam quyền phân lập. Theo học thuyết này, quyền lực nhà nước không phải là một thể thống nhất, mà phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiểm soát và kiềm chế lẫn nhau.
Tư tưởng phân quyền được các nhà triết học đặt ra từ thời La Mã cổ đại, với đại diện tiêu biểu là nhà bác học vĩ đại Aristote (384 - 322 tr.CN). Ông đã chia hoạt động của nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử. Tuy nhiên, tư tưởng của ông mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó. Tư tưởng về phân quyền chỉ trở thành một lý thuyết toàn diện và độc lập trong thời kỳ Khai sáng. Người khai sinh ra học thuyết này là triết gia người Anh, John Loke (1632-1704) và người có đóng góp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh là nhà luật học người Pháp S. Montesquieu (1689-1755).
Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực sẽ xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước phải thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực. Cách tốt nhất để chống lạm quyền là giới hạn quyền lực bằng công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trung quyền lực mà phân chia nó ra. Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền và sau đó phải làm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp luật. Montesquieu đã lập luận tinh tế và chặt chẽ tính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: Quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.[1]Montesquieu chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanh toán lạm quyền, để chính quyền không thể gây trở ngại cho người bị trị và đảm bảo quyền tự do cho nhân dân. Ông viết: “Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viên Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan toà sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết.[2]
          Theo học thuyết tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước phân chia thành các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, không chỉ để chuyên môn hoá các quyền mà quan trọng hơn là để giữa các quyền có sự giám sát, chế ước lẫn nhau, tạo nên sự cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan công quyền. Mỗi cơ quan được quyền hoạt động trong lĩnh vực của mình, không có quyền trong lĩnh vực khác, nhưng có quyền ngăn chặn cơ quan khác. Quyền lực ngăn chặn quyền lực chính là điểm cốt yếu trong chủ trương phân chia quyền lực. Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Montesquieu cho rằng “Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia. Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp thì cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp[3]. Theo ông, cơ quan hành pháp không có quyền thông qua luật. Nhưng có quyền ngăn chặn lập pháp biểu quyết những đạo luật có hại cho quốc gia... Ngược lại cơ quan lập pháp có quyền kiểm soát cơ quan hành pháp và khi luật lệ ban hành không được áp dụng thì cơ quan lập pháp truy tố các cộng sự của nhà vua. Cơ chế kiềm chế và đối trọng mà học thuyết tam quyền phân lập đưa ra nhằm mục đích giám sát và ngăn chặn lạm dụng quyền lực. Trong đó mỗi tổ chức sử dụng quyền lực nhà nước đều có sự độc lập cần thiết, đồng thời có quyền và phương tiện tương xứng để giám sát hoạt động của các cơ quan khác, tạo thế cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan. Đây chính là cơ sở lý luận để hình thành nguyên tắc kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước được xác định trong hiến pháp tư sản. Cả Jonh Locke và Montesquieu đều mong muốn một xã hội tốt đẹp, trong đó quyền tự do của con người được đề cao, xã hội không phải gánh chịu những lộng hành của Nhà nước. Và họ chủ yếu kỳ vọng vào sự kiểm soát quyền lực nhà nước ngay trong hệ thống quyền lực. Là nhà nước mang đậm nét phân quyền như Mỹ, Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Quốc Hội là cơ quan độc quyền lập pháp, Tổng thống chỉ có thể đề nghị mà không có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, nghĩa là không có sáng quyền lập pháp, nhưng Tổng thống có quyền phê chuẩn hoặc phủ quyết một dự luật đã thông qua theo một trình tự và giới hạn do luật định, nhằm kiềm chế bớt sự lạm quyền của Quốc hội. Pháp viện tối cao Hoa Kỳ có quyền tuyên bố một đạo luật là vô hiệu nếu trái ngược với Hiến pháp Hoa Kỳ, nhưng không có quyền thay đổi hoặc huỷ bỏ đạo luật đó. Đây chính là giới hạn quyền lực được đặt ra nhằm kiểm soát quyền lực, tránh lạm quyền.
          Có thể nói, ưu điểm quan trọng nhất của học thuyết tam quyền phân lập là tránh được sự chuyên quyền, độc tài trong thực hiện quyền lực nhà nước. Đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng “quyền lực dã man” trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ. Loại bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, độc tài - mảnh đất tốt cho sự lộng quyền, bức rào cản của dân chủ và phát triển xã hội. Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội. Lấy pháp luât làm tối thượng, lấy bảo đảm các quyền tự do công dân làm mục đích cuối cùng. Không chỉ vậy, với cơ chế kiềm chế và đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa ba nhánh quyền lực đã loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó - nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hoá trong quá trình thực thi quyền lực. Nhờ cơ chế này mà không cơ quan nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác. Đồng thời không cơ quan nào, tổ chức nào đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan nhà nước khác. Như vậy, sự phân chia rành mạch về chức năng và nhân sự cùng với cơ chế kìm chế, đối trọng có tác dụng vừa hạn chế khả năng lạm quyền, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân.
          Mặc dù thực tiễn chính trị đã thay đổi nhiều so với thời kỳ học thuyết phân quyền ra đời và cho dù tinh thần của học thuyết còn những hạn chế nhất định nhưng học thuyết này vẫn còn nguyên sức sống. Những giá trị mang tính phổ quát của nó vẫn đang được khai thác và nhân rộng trong tổ chức quyền lực của nhiều nước, không phân biệt điều kiện kinh tế, văn hoá và chế độ chính trị. Trong khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thực tiễn đã hình thành những chính thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá của mỗi nước. Ở các nước tư bản, các nhánh quyền lực nhà nước được thể chế hoá cao độ. Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao. Cơ chế kiểm soát quyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Có thể thấy, cho đến nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giá trị tiến bộ của nó. Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễn chính trị hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển. Đúng như đánh giá của Ph. Ăngghen: “Phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm trên thực tế, về thực chất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hoá và để kiểm tra[4]
          Tổ chức và phân công quyền lực nhà nước ở nước ta trước đổi mới theo nguyên tắc tập quyền. Trong tư duy chính trị pháp lý và trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước lúc bấy giờ, không hề tìm thấy các thuật ngữ “phân công, phân nhiệm một cách rạch ròi ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Dưới ánh sáng đổi mới, một mặt Đảng và nhà nước ta khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng mặt khác có sự kế thừa những nhân tố tiến bộ trong tổ chức và phân công quyền lực của nhân loại. Đặc biệt là những hạt nhân hợp lý, những giá trị tích cực trong học thuyết tam quyền phân lập. Nghị quyết Đại Hội Đảng X khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp[5]. Quan điểm này cũng được quy định tại Điều 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001). Quyền lực nhà nước là thống nhất không có nghĩa là quyền lực chỉ do một số người nào đó nắm giữ mà đó là sự tập trung, thống nhất quyền lực trong tay nhân dân thông qua người đại diện của họ, nhằm đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong tổ chức cũng như sử dụng quyền lực. Sự tập trung không những không đối lập với việc phân công, phân nhiệm, mà ngược lại đòi hỏi phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy thực hiện quyền lực. Sự phân định càng thiếu rõ ràng thì việc kiểm soát quyền lực càng kém cả về hiệu lực lẫn hiệu quả.
Có thể nói, việc thừa nhận phân công và phân nhiệm trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước là một bước tiến về nhận thức lý luận. Cả lý luận và thực tiễn đều đặt ra yêu cầu tất yếu rằng, giữa các cơ quan nhà nước cần có sự phân công chuyên môn hoá lao động quyền lực, đảm bảo sự độc lập trong tổ chức của các cơ quan và sự phối hợp giữa chúng, nhưng đồng thời giữa các cơ quan cần có sự kiểm soát, kiềm chế, giám sát lẫn nhau. Nắm vững nguyên tắc này có ý nghĩa chỉ đạo hoạt động thực tiễn về tổ chức và phân công quyền lực nhà nước trong bộ máy nhà nước.
          Đảng và nhà nước ta đã chủ trương phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền. Điều đó có nghĩa là trong quá trình cải cách và xây dựng bộ máy nhà nước phải coi trọng việc xác định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền này để hạn chế sự lạm quyền, lộng quyền, chồng chéo và cản trở công việc của nhau. Tuy nhiên không phải vì phân công, phân nhiệm rạch ròi mà các cơ quan nhà nước quay lưng lại với nhau, không phối hợp với nhau, chống đối nhau. Chính nhờ vào quan điểm này mà bộ máy nhà nước ta qua cải cách và đổi mới ngày càng được củng cố và hoàn thiện hơn về tổ chức và hoạt động quyền lực, tránh được tình trạng như: lẫn lộn chức năng và quyền hạn giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp; dựa dẫm và ỷ lại nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước; nể nang, xuê xoa trong giám sát, kiểm sát, thanh tra việc thực hiện chức năng và quyền hạn của mỗi bên.
          Tuy nhiên có thể thấy rằng, những hạt nhân hợp lý của học thuyết tam quyền phân lập vẫn chưa được chúng ta khai thác đầy đủ. Việc phân công quyền lực giữa các cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập. Chính sự phân công không rõ ràng về thẩm quyền đã dẫn đến sự chồng chéo giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong việc thực thi quyền lực. Làm cho cơ cấu quyền lực không phát huy được hết hiệu quả. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa kế thừa và thiết lập được cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu ngay trong bộ máy nhà nước, mà đó mới được coi là nội dung cốt lõi của học thuyết tam quyền phân lập.
          Do vậy, việc vận dụng học thuyết tam quyền phân lập trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước ta cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
- Tiến hành sự phân công, phân nhiệm rạch ròi về mặt chức năng, thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực và thể chế hoá cụ thể, rõ ràng trong Hiến pháp nhằm tạo ra sự ổn định trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
- Cần cầu thị học tập cơ chế kiểm soát quyền lực mà học thuyết tam quyền phân lập đã đưa ra và vận dụng sáng tạo trong điều kiện một đảng lãnh đạo, nhằm thiết lập các ràng buộc bên trong đối với quyền lực.
- Nhân sự phải được chuyên môn hoá cao độ mà trước hết là hạn chế tối đa sự kiêm nhiệm ở các bộ phận quyền lực khác nhau.
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay việc nghiên cứu học thuyết tam quyền phân lập, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của học thuyết này vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới hệ thống chính trị, cải cách bộ máy nhà nước ta theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Khai thác nhân tố hợp lý của học thuyết này đòi hỏi phải làm rõ tính độc lập, chuyên nghiệp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo quyền lực nhà nước là thống nhất, đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trước cơ quan quyền lực của nhân dân. Đó chính là những vấn đề thuộc về bản chất của nhà nước pháp quyền mà chúng ta đang xây dựng.


[1] Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Đại học KHXH và NV, Hà Nội, tr.100.
[2] Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Đại học KHXH và NV, Hà Nội, tr.100,101.
[3] Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Đại học KHXH và NV, Hà Nội, tr.110.
[4] C.Mác - Ph.Ăngghen (1981), Tuyển tập, Tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.405.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.45.
Last update : 09/08/2014
http://truongchinhtrithanhhoa.gov.vn/s/?noi-dung-co-ban-cua-hoc-thuyet-tam-quyen-phan-lap-va-y-nghia-trong-to-chuc-hoat-dong-cua-nha-nuoc-ta-hien-nay&tp=news&region_id=16&keyword=0&masterid=0&id=8103