Hiển thị các bài đăng có nhãn hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

CHÚNG TA CÓ QUYỀN CON NGƯỜI TỪ BẨM SINH, CHỨ KHÔNG PHẢI NHỜ ƠN CHÍNH QUYỀN BAN PHÁT !

GS.TS. Nguyễn Đăng Dung chủ nhiệm bộ môn luật hành chính - Hiến pháp, Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội: CHÚNG TA CÓ QUYỀN CON NGƯỜI TỪ BẨM SINH, CHỨ KHÔNG PHẢI NHỜ ƠN CHÍNH QUYỀN BAN PHÁT !
"...Cách qui định về quyền con người trong Hiến pháp của Việt Nam gây cảm tưởng rằng quyền con người không phải là quyền vốn có do Tạo hóa ban cho con người với tư cách là con người, mà là do nhà nước ban cho người dân. Quy định về quyền công dân thì phải đặt công dân ở vị trí chủ thể, nhưng nhiều qui định về dân quyền trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành đa phần đặt nhà nước ở vị trí chủ thể, còn công dân thì như là đối tượng được ban cho quyền chứ không phải được thừa nhận quyền...
Điều 51, Hiến pháp năm 1992 quy định: "Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật qui định".
Trong 33 Điều của Chương V về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thuật ngữ "nhà nước với tư cách là chủ thể lại xuất hiện khá nhiều. Những công thức thường được áp dụng là: "Nhà nước bảo đảm..."; "Nhà nước... có kế hoạch..."; "Nhà nước ban hành..."; "Nhà nước qui định..."; "Nhà nước giao..."; "Nhà nước có chính sách..."; "Nhà nước tạo điều kiện..."; "Nhà nước bảo hộ...".
Theo những công thức như vậy, nhà nước giống như là chủ thể "sáng tạo" ra quyền con người, chứ không phải là chủ thể "tôn trọng" quyền con người. Ở đây cần hiểu rằng nhà nước không chỉ có nghĩa vụ bảo đảm, thực hiện, thúc đẩy quyền con người, mà đầu tiên phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người. Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi nhà nước phải hạn chế không can thiệp vào việc thụ hưởng các quyền của cá nhân.

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

Lời giới thiệu sách : Các bản hiến pháp làm nên lịch sử

Các bản hiến pháp ở mỗi quốc gia tiến bộ đều được coi là những sản phẩm đỉnh cao của trí tuệ và văn minh. Đó đều là thành quả của những cuộc đấu tranh lâu dài cho độc lập tự do bình đẳng và bác ái. Tuyển tập hiến pháp này được coi là một cuốn cẩm nang cho thời kỳ lập hiến tại các quốc gia châu Âu.Nó là cũng là một nền tảng cho những cuộc tranh luận chính xung quanh việc thông qua các bản hiến pháp lâu dài ở những quốc gia văn minh. Và việc tuyển tập hiến pháp này được xuất bản thành sách, để ai cũng có thể tiếp cận và đọc chính là một bước tiến lớn của lịch sử lập hiến, khi mà mọi thành tựu của việc làm hiến pháp ở các quốc gia tiến bộ, đã có thể phổ cập cho toàn nhân loại.Điểm chung lớn nhất và cũng là điểm cơ bản khiến cho những bản hiến pháp trong cuốn sách này có giá trị nhân loại chính là : chúng đề cao giá trị của dân chủ tự do và quyền con người đó là những giá trị mà ngay cả những đêm dài tăm tối nhất của lịch sử thì con người vẫn luôn tiến tới và chiến đấu để xua đi những bất công và đau khổ. Những bản hiến pháp thành văn đầu tiên đã thể hiện hai học thuyết chính trị quan trọng hàng đầu của nhân loại, đó là học thuyết về khế ước xã hội của Rousseau và học thuyết pháp luật tự nhiên của Locker .Những bản hiến pháp tiến bộ sau đó đều không bỏ qua sự kế thừa những tư tưởng văn minh của hai học thuyết này.Những học thuyết đều nhấn mạnh đến việc nhà nước sinh ra đều dựa trên qui luật của hiện thực và tự nhiên chứ không vì ý chí chủ quan hay thần thánh nào. Nhà nước sinh ra mang trong mình thẩm quyền nhân danh nhân dân và phải thực thi đầy đủ nghĩa vụ của mình theo khế ước xã hội.Đúng như những tác giả của cuốn sách này đã viết : "Những bản hiến pháp được giới thiệu ở đây chẳng những đã làm nên lịch sử mà chúng sẽ tiếp tục làm nên lịch sử, bởi vì việc nghiên cứu chúng sẽ tiếp tục ảnh hưởng đối với quá trình kéo dài mãi mãi của việc xây dựng hiến pháp ở bất kì quốc gia nào". Mười tám bản hiến pháp trong cuốn sách này rồi đây có thể sẽ được bổ sung thêm những người bạn đồng hành bởi giá trị của văn minh và tiến bộ thì không ngừng chảy nó chảy vì sự trường tồn của loài người trên trái đất này và các bản hiến pháp làm nên lịch sử đang góp phần làm cho sự trường tốn ấy không chỉ kéo dài mà còn đơm hoa kết trái.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Teo dần quyền con người trong Hiến pháp

Hoàng Xuân Phú


Trong thời gian qua, nhiều người mong muốn sửa đổi Hiến pháp 1992, để bỏ hoặc thay đổi một số quy định, ví dụ như quy định về quyền lãnh đạo (được hiểu là đương nhiên) của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Nhà nước và xã hội (Điều 4), và quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước quản lý (Điều 17–18). Tôi không chia sẻ kỳ vọng đó, bởi không tin rằng giới lãnh đạo hiện nay có thể sớm chấp nhận thay đổi những điều mà họ khẳng định là bất di, bất dịch. Ngược lại, tôi thuộc số những người lo rằng việc sửa đổi Hiến pháp có thể bị lợi dụng để hạn chế hơn nữa quyền con người. Và bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã cho thấy nỗi lo đó không phải là vô cớ. Thậm chí, không ngờ họ lại có thể đi xa như vậy…

Trong Hiến pháp 1992, thuật ngữ "quyền con người" chỉ được nhắc một lần, tại
"Điều 50: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật."
Tức là "quyền con người" được đồng nghĩa với "quyền công dân". Vậy thì những người đang tạm thời bị tước "quyền công dân" sẽ không còn được hưởng "quyền con người". Hơn nữa, sau khi định nghĩa "Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam" (Điều 49), thì "quyền con người" sẽ không còn được áp dụng cho những người đang tồn tại trên đất Việt Nam, nhưng không hoặc chưa "có quốc tịch Việt Nam". Điều này cho thấy cách hiểu về "quyền con người" trong Hiến pháp 1992 phiến diện như thế nào.

Một thay đổi dễ nhận thấy trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là "quyền con người"được tách ra, được nhắc tới 8 lần, luôn đi cạnh và được đặt trước "quyền công dân". Ở chế độ mà giới lãnh đạo vốn rất khó chịu khi nghe nhắc đến "nhân quyền" (tức là "quyền con người"), thì đây là một bước tiến, muộn mằn nhưng có vẫn hơn không.

Một thay đổi nữa, là "quyền công dân" cùng "quyền con người" được đưa từ Chương V (trong Hiến pháp 1992) lên Chương II (trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp). Ở Cộng hòa Liên bang Đức, "quyền con người" được đặt lên vị trí hàng đầu, trong Chương I của Hiến pháp. Ở CHXHCN Việt Nam thì Chương I của Hiến pháp được dành cho "Chế độ chính trị""Chính trị" là một cái gì đó rất thiêng liêng, mà cũng rất bí hiểm, và càng bí hiểm thì càng… hữu dụng. Khi muốn đùn đẩy công việc, thì tuyên bố: "Cần có sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị." Khi muốn làm liều, thì khẳng định: "Với quyết tâm chính trị, chắc chắn sẽ làm được." Còn khi muốn lẩn tránh trách nhiệm của bản thân, thì chỉ cần tỏ chút áy náy và "nhận trách nhiệm chính trị".

Hai thay đổi kể trên là theo hướng tiến bộ, đáng được ghi nhận. Song như vậy thì mới thể hiện rằng quyền con người đã được chú ý hơn. Mà chỉ chú ý thì chưa đủ và cũng chưa chắc đã tốt. Chẳng hạn, nếu bạn được công an chú ý, thì điều đó không hẳn là dấu hiệu hay. Để đánh giá chính xác các thay đổi về quyền con người và quyền công dân, thì phải xem xét các quy định cụ thể.

Bài này không nhằm mục đích đánh giá đầy đủ và toàn diện về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, mà chỉ điểm qua một số ví dụ đáng lưu ý về sự thay đổi tiêu cực hay có thể là tiêu cực, liên quan tới quyền con người và quyền công dân. Hy vọng rằng những nhận xét dưới đây sẽ có ích cho những người đang muốn tham gia góp ý kiến cho bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp.


Quyền hư quyền ảo

Trong "Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, xuất hiện một quyền mới (so với Hiến pháp 1992) là:
"Điều 21: Mọi người có quyền sống."
Nghĩ một cách dân dã, thì thấy điều này có vẻ ngồ ngộ. "Quyền sống" còn hiển nhiên hơn cả "quyền ăn ngủ", bởi muốn "ăn ngủ" thì tất nhiên phải "sống". Vậy mà nếu hiến định rằng"Mọi người có quyền ăn ngủ" thì ai nấy đã thấy ngây ngô.

Thực ra, câu "Mọi người có quyền sống" cũng xuất hiện trong Hiến pháp của một số nước, chẳng hạn tại Điều 2 của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (Jeder hat das Recht auf Leben). Điều đó chứa đựng một nội dung rất quan trọng, mà hệ quả trực tiếp của nó là:Không thể có án tử hình, vì tử hình một người là xâm phạm "quyền sống" của người đó.

Chấp nhận án tử hình hay không là một vấn đề nan giải, vẫn còn đang được tranh luận ở nhiều nơi trên thế giới. Nhiều nước vẫn duy trì án tử hình, như Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Liệu có thật là nhà cầm quyền Việt Nam muốn hủy bỏ án tử hình hay không? Nếu đúng làhọ muốn hủy bỏ án tử hình, thì đây là một thay đổi rất quan trọng. Còn ngược lại, nếu họ vẫn định tiếp tục duy trì án tử hình, thì Điều 21 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa thừa, vừa giả dối, và chỉ chất to thêm đống quyền hữu danh vô thực trong Hiến pháp mà thôi.

Một quyền mới khác trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp là:
"Điều 35: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội."
Điều này được sửa đổi từ Điều 67 của Hiến pháp 1992, quy định rằng:
"Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định."
"Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc."
"Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ."
Nghĩa là:
-       Chỉ đề cập đến một số đối tượng đặc biệt, đó là thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước, người già, người tàn tật và trẻ mồ côi;
-       Chỉ hứa hẹn một cách chung chung, là "được hưởng các chính sách ưu đãi", "được tạo điều kiện", "được khen thưởng, chăm sóc", "được Nhà nước và xã hội giúp đỡ";
-       Chỉ đề cập đến mấy nội dung cụ thể, là "phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định", và những thứ đó chỉ dành riêng cho đối tượng thương binh.

Điều 35 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra những bước đại nhảy vọt so với Điều 67 của Hiến pháp 1992, đó là:
-       Áp dụng cho mọi công dân;
-       Không chỉ là hứa hẹn chung chung, mà nâng lên thành "quyền được bảo đảm";
-       Nội dung "được bảo đảm" không chỉ dừng lại ở mấy nội dung cụ thể, mà bao trùm lêntoàn bộ "an sinh xã hội".
Đây là một ý tưởng cách mạng vĩ đại, nếu họ thực tâm muốn triển khai. Tiếc rằng, nếu thực tâm thì ngây ngô, và nếu không ngây ngô thì không thể thực tâm.

"Quyền được bảo đảm an sinh xã hội" là một thứ quyền vu vơ và hoàn toàn không khả thi. Thời gian qua, mới chỉ tập trung cho một số đối tượng rất chọn lọc và chỉ dừng lại ở mấy chế độ phúc lợi rất khiêm tốn, thế mà còn chưa làm tốt nổi. Vậy thì sao có thể "bảo đảm an sinh xã hội" cho mọi công dân? Lưu ý rằng chế độ "an sinh xã hội" bao gồm cả chăm sóc về y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Lấy đâu ra tiền của để thực hiện "ý tưởng cách mạng vĩ đại" ấy?

"Công dân có quyền được bảo đảm", nhưng ai, cơ quan hay tổ chức nào phải đứng ra"bảo đảm"? Phải chăng cuối cùng họ sẽ phán rằng Dân phải "tự bảo đảm"?

Trong thời buổi tham nhũng hoành hành từ trên xuống dưới, thì những chính sách viển vông không chỉ vô ích, mà còn rất tai hại, vì giới cầm quyền sẽ "mượn gió bẻ măng".Điều này đang diễn ra dưới nhiều danh nghĩa, ví dụ như việc xây nhà ở xịn để bán chongười nghèo ở giữa đô thị đắt đỏ. Khi đã đẻ ra một chính sách phúc lợi xã hội nào đó thì họ có cớ để vung tiền từ ngân sách, tức là tiền của Dân. Tất nhiên là không đủ để "ngập tràn thiên hạ". Lúc đó, "nước có quyền chảy vào chỗ trũng", nghĩa là ưu tiên cho "người thân"(theo nghĩa rộng, bao gồm cả những người quen thân vì tiền), và cũng không quên phần mình. Đối với các quan tham, "từ thiện" không còn là mục tiêu hành động, mà là phương tiện để vơ vét cho bản thân.

Hơn nữa, khi số tiền của ít ỏi có thể dành cho phúc lợi xã hội bị vung vãi trên diện quá rộng, thì nảy sinh nguy cơ là nhiều người lẽ ra vẫn được hưởng trợ giúp sẽ không còn được hưởng nữa.

Hai ví dụ kể trên cho thấy rằng: Dự thảo sửa đổi Hiến pháp có thể đem lại cho người dân một số quyền mới nào đó, nhưng có khi lại là những quyền hư ảo, trong khi những quyền bị cắt giảm thì lại rất thật, như sẽ trình bày trong phần tiếp theo. Điều đáng buồn là: Xu hướng giả dối vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển trong việc xây dựng Hiến pháp.


Quyền thoi quyền thóp

Trong Điều 71 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
"Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật." (Điều 71, Đoạn 2)
Điều 71 được sửa thành Điều 22 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng toàn bộ quy định được trích ở trên (nhằm hạn chế việc bắt người tùy tiện và yêu cầu "bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật") đã bị xóa. Trong thời gian qua, Hiến pháp đã quy định rõ ràng như vậy mà công an vẫn bắt người và giam giữ rất tùy tiện. Rồi đây, khi quy định ấy đã bị gạch khỏi Hiến pháp, thì số phận người dân sẽ ra sao?

Trong Điều 74 của Hiến pháp 1992 có quy định rằng:
"Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định." (Điều 74, Đoạn 2)
Điều 74 được sửa thành Điều 31 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng quy định vừa được trích (nhằm ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo) không còn nữa. Vốn dĩ, khiếu nại và tố cáo của công dân hay bị ngâm tôm bất tận. Đến đại công thần của chế độ gửi kiến nghị cũng chẳng được hồi âm. Vậy thì sau này, khi ràng buộc về thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo bị xóa khỏi Hiến pháp, Dân sẽ phải chờ đợi bao lâu?

Đoạn thứ nhất trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
"Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật."
Khi điều khoản trên hóa thân vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp, 5 chữ "và phải chịu hình phạt" bị loại bỏ. Thành thử chỉ còn sót lại như sau:
"Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật."(Điều 32, Khoản 1)
Hệ quả kéo theo là: "Khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" thì"không ai bị coi là có tội", song vẫn có thể "phải chịu hình phạt". Ở các nước văn minh thì hiển nhiên không ai "phải chịu hình phạt" khi chưa "bị coi là có tội". Nhưng ở xứ sở bất an, nơi khi được công an "mời vào" đồn thì vẫn còn mạnh khỏe, mà lúc "tiễn ra" có thể đã liêu xiêu, thậm chí có trường hợp trở thành xác không hồn, thì việc triệt tiêu 5 chữ "và phải chịu hình phạt" sẽ giúp cho công an nhân dân thêm vô tư "luyện võ" với Nhân dân.

Đoạn thứ hai trong Điều 72 của Hiến pháp 1992 viết rằng:
"Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh."
Trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, quy định này được sửa thành:
"Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật." (Điều 32, Khoản 4)
Nghĩa là: Từ "giam giữ" được thay bằng "tạm giữ, tạm giam". Hậu quả là: Khi đã kết án tù giam và chuyển từ trạng thái "tạm giữ, tạm giam" sang hình thức "giam giữ" để chấp hành án, thì người tù không còn được bảo vệ và người coi tù làm trái pháp luật không còn bị xử lý theo quy định của điều khoản sửa đổi.

Ba nội dung bị loại bỏ được đề cập ở trên đều có chung một "tội" là: Chúng hay để Dân níu bám, nhằm tố cáo chính quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Có lẽ vì vậy nên phải "kết liễu" chúng, đẩy chúng ra khỏi Hiến pháp, để… giữ gìn uy tín cho chính quyền. Ngoài ra, hai quy định sau đây cũng đã bị loại bỏ khỏi dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Điều 64 về hôn nhân và gia đình trong Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 39 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng lại bỏ đi đoạn quy định về trách nhiệm nuôi dạy con của cha mẹ và trách nhiệm chăm sóc ông bà, cha mẹ của con cháu. Điều đó cũng có nghĩa là bỏ điquyền của con cái được cha mẹ nuôi dạy và quyền của ông bà, cha mẹ được con cháu chăm sóc.

Điều 59 của Hiến pháp 1992 được sửa thành Điều 42 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhưng bỏ đi quy định:
"Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí."
Và nó được thay bằng một quy định chung chung trong Điều 66:
"Nhà nước… quy định phổ cập giáo dục; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý…"
Vậy là, theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bậc tiểu học không còn hiển nhiên được miễn học phí.


Quyền treo trên lửa

Loài người từ khi sinh ra đã tồn tại và phát triển nhờ biết lợi dụng. Ban đầu thì sống nhờ săn bắt và hái lượm, tức là lợi dụng rừng và biển. Rồi tiến hành trồng cấy, tức là lợi dụng đất đai và ánh sáng mặt trời. Từ vận chuyển hàng hóa trên sông đến ngăn đập tạo ra thủy điện đều là lợi dụng sức nước. Từ căng buồm ra khơi đến tạo ra phong điện đều là lợi dụng sức gió

Đảng Cộng sản Đông Dương đã lợi dụng thời cơ, khi phát xít Nhật bị quân đồng minh đánh bại và chính quyền thuộc địa Pháp chưa kịp hồi sinh, để cướp chính quyền. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, đảng đã lợi dụng sự cưu mang, giúp đỡ và che chở của những người giàu có, để rồi khi chiếm được chính quyền lại đem bao ân nhân ra đấu tố… trong cải cách ruộng đất. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng Lao động Việt Nam cũng đã lợi dụng tính mạng và của cải của Nhân dân cùng với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế để giành thắng lợi.

"Lợi dụng" thuộc vào bản năng sống và hành động của con người. Vậy thì việc "lợi dụng" có gì sai? Lợi dụng điều kiện thuận lợi không thể bị coi là xấu, mà không lợi dụng điều kiện thuận lợi cũng chẳng phải là điều đáng để ngợi ca.

Trong các nhà nước pháp quyền, hoạt động của toàn xã hội được điều tiết bằng pháp luật. Xã hội càng văn minh, càng đa dạng thì hệ thống pháp luật càng cồng kềnh và phức tạp. Dù cố gắng đến đâu đi nữa, thì vẫn luôn tồn tại những kẽ hở pháp lý và những quy định chồng chéo. Khi có kẽ hở thì công dân có quyền lách qua mà không hề vi phạm pháp luật. Khi tồn tại nhiều điều khoản chồng chéo, với những quy định khác nhau có thể áp dụng cho cùng một vụ việc, thì đương sự có quyền áp dụng điều khoản có lợi nhất cho mình. Vì vậy, ở một số nước phát triển cao vẫn công khai bày bán những cuốn sách về các mẹo tính thuế để giảm thuế. Những hành động như vậy không phải là tội lỗi, mà hoàn toàn hợp pháp.

Ấy vậy mà ở CHXHCN Việt Nam lại có một loại tội gọi là "tội lợi dụng…". Kỳ khôi nhất là"tội lợi dụng sơ hở của pháp luật…". Nếu cần xử lý, thì trước hết phải xử lý những người đã tiêu tốn tiền của Dân mà tạo ra sơ hở pháp luật, chứ sao lại dồn hết trách nhiệm lên đầu những người lợi dụng sơ hở đó? Kiểu quy tội này cũng "hợp lý" như việc quan phụ mẫu mặc quần thủng… lên công đường, rồi lại phạt dân đen vì tội nhìn vào chỗ thủng.

Hiến pháp 1992 có hai điều khoản "cấm lợi dụng":
"Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước." (Điều 70, Đoạn 3)
"Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác." (Điều 74, Đoạn 4)

Điều gì đáng nói ở đây? Như đã phân tích ở trên, riêng hành động "lợi dụng" thì không thể coi là tội, và vì vậy không thể cấm. Để mô tả những thứ cần cấm và có thể cấm trong hai điều khoản kể trên, thì chỉ cần viết gọn lại như sau là đã quá đủ:
"Không ai được… làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước."
"Nghiêm cấm việc… vu khống, vu cáo làm hại người khác."
Nghĩa là bỏ đi hai đoạn "lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo" và "lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo". Khi vi phạm các điều cấm vừa viết, thì dù "lợi dụng…" hay không cũng chẳng làm cho tội nặng lên hay nhẹ đi. Tức là, xét về mặt lô-gíc thuần túy thì các đoạn "lợi dụng…" hoàn toàn thừa.

Vậy thì, tại sao nhà cầm quyền vẫn cố tình cài thêm các đoạn "lợi dụng…" vào các điều khoản ấy?

Phải chăng, đó là thủ đoạn pháp lý, nhằm hạn chế và cản trở những quyền con người và quyền công dân được gán sau từ "lợi dụng"?

Chắc hẳn, mục tiêu mà họ nhắm tới là ngăn cản việc thực thi các quyền đó, chứ không phải những cái gọi là vi phạm, mà họ bám vào để kết tội. Từ "lợi dụng" bị lạm dụng để bắc cầu, nhằm kết nối các quyền con người với các tội, để kiếm cớ phủ định các quyền chính đáng, rồi trấn áp và trừng trị những người thực thi các quyền đó.

Ví dụ: Nếu ai đó thực thi "quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo" (được quy định tại đoạn thứ nhất trong Điều 70 của Hiến pháp 1992), mà nhà cầm quyền không ưng, thì họ sẽ gán cho cái nhãn "làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Rồi dùng từ "lợi dụng" để bắc cầu "tín ngưỡng, tôn giáo" với cái vi phạm được ngụy tạo đó. Kết quả thu được là tội "lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước". Vậy là có thể vận dụng đoạn thứ ba trong Điều 70 của Hiến pháp 1992 và hệ quả của nó trong Bộ luật Hình sự (Điều 258) để trừng trị.

Điều 70 và Điều 74 của Hiến pháp 1992 được sửa đổi thành Điều 25 và Điều 31 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, trong đó vẫn duy trì hai khoản "cấm lợi dụng":
"Không ai được… lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật." (Điều 25, Khoản 3)
"Nghiêm cấm việc… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác." (Điều 31, Khoản 3)

Đi xa hơn nữa, họ còn đưa thêm một điều khoản "cấm lợi dụng" hoàn toàn mới vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
"Không được lợi dụng quyền con người, quyền công dân để xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác." (Điều 16, Khoản 2)
Với bảo bối vạn năng này, tất cả các quyền con người và quyền công dân đều có thể bị cản trở. Cái nhãn "xâm phạm lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác" thì quá bao la và có thể dễ dàng ngụy tạo. Trên thực tế, họ cũng chẳng cần phải mất công tìm kiếm hay bày đặt chứng cớ, mà chỉ cần nhắm mắt đưa ra kết luận mang tính quy chụp.

Những ai đã từng trực tiếp chứng kiến các cuộc biểu tình yêu nước, phản đối hành động gây hấn của "bạn 16 chữ vàng", diễn ra tại Hà Nội vào hai mùa hè 2011 và 2012, thì đều có thể nhận thấy rằng: Những người tham gia biểu tình rất ôn hòa và luôn chú ý giữ gìn trật tự công cộng, để công an không có cớ trấn áp. Nếu có hỗn loạn thì lại do chính những người mang danh lực lượng giữ gìn an ninh và trật tự cố ý gây ra. Thế nhưng, nhà cầm quyền vẫn vu cho những người biểu tình tội gây rối trật tự công cộng để đàn áp. Đó là một trong những thủ đoạn đã được áp dụng trên thực tế để cản trở và trấn áp công dân thực thi quyền tự do biểu tình.

Chưa hài lòng với cái lưới tà ma bao trùm kể trên, họ còn bổ sung một điều khoản "cấm lợi dụng" sau đây vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp:
"Nghiêm cấm hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam, truyền bá tư tưởng, xuất bản phẩm và các hình thức khác có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan."(Điều 64, Khoản 4)
Với quy định này, nhà cầm quyền có thêm phương tiện pháp lý để cản trở quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí

Thủ đoạn lợi dụng… từ "lợi dụng" để biến những hoạt động chính đáng và hợp pháp của công dân thành tội lỗi là như vậy.


Quyền nằm dưới dao

Hiến pháp 1992 có một điều rất đặc biệt, đó là:
"Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."
Đặc biệt ở chỗ nào? Nó quy định 6 quyền cơ bản của công dân, nhưng… trên thực tế thìtất cả 6 quyền ấy đều bị nhà cầm quyền cản trở.

Ví dụ điển hình là quyền biểu tình. Với ràng buộc "theo quy định của pháp luật", nhà cầm quyền có thể thông qua Quốc hội để ban hành luật, nhằm hạn chế quyền biểu tình trong một khuôn khổ nào đó. Nhưng hàng chục năm trôi qua, vẫn không xuất hiện một luật nào liên quan đến biểu tình. Nhiều người, kể cả giới cầm quyền, nhầm tưởng rằng: Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân chưa được phép biểu tình. Nhưng bài "Quyền biểu tình của công dân" đã chỉ ra rằng: Theo Hiến pháp hiện hành thì công dân luôn luôn có quyền biểu tình. Nếu đã có luật về biểu tình thì công dân phải tuân theo ràng buộc của luật đó. Khi chưa có luật về biểu tình thì công dân càng có quyền biểu tình, và quyền ấy không bị hạn chế bởi pháp luật, tức là càng tự do.

Điều 4 của Hiến pháp 1992 quy định rằng:
"Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật."
Căn cứ vào điều khoản này thì có thể nói rằng: Việc công dân biểu tình khi chưa có luật về biểu tình còn chính đáng và hợp pháp hơn so với việc ĐCSVN hoạt động khi chưa có luật quy định về khuôn khổ hoạt động của đảng. Tại sao lại chính đáng và hợp pháp hơn? Bởì vì "Nhà nước chỉ được làm những điều pháp luật cho phép, còn Nhân dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm." Nhà nước được hiểu là "một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị, được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình", nên ràng buộc kể trên đối với Nhà nước cũng có hiệu lực cho ĐCSVN. Hơn nữa, như ông Nguyễn Trung đã nhận định, "Đảng mới là nhà nước đích thực: Nhà nước đảng trị."  Rõ ràng, Hiến pháp hiện hành không hề đề cập đến khuôn khổ hoạt động của đảng và cũng chưa có luật nào quy định về khuôn khổ đó, cho nên đảng cũng chưa có được "những điều pháp luật cho phép" để mà "được làm", để mà "hoạt động". Trong khi đó, quyền biểu tình của công dân được minh định trong Hiến pháp hiện hành và chưa có luật nào hạn chế quyền ấy, nên hiển nhiên là công dân có quyền biểu tình không hạn chế.

Để ngăn cản và đàn áp biểu tình, chính quyền thường viện dẫn Nghị định Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA (hướng dẫn thi hành nghị định đó). Nhưng bài "Lực cản Nhà nước pháp quyền" đã chỉ ra rằng:
-       Nghị định số 38/2005/NĐ-CP và Thông tư số 09/2005/TT-BCA vi phạm Hiến pháp và pháp luật;
-       Chính phủ không có quyền ban hành nghị định để hạn chế quyền công dân;
-       Dù bỏ qua hai khía cạnh vừa kể, thì lời văn của hai văn bản ấy cũng không cho phépáp dụng chúng để cản trở biểu tình yêu nước, như những cuộc biểu tình ôn hòa đã diễn ra ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong hai năm 2011 và 2012.

Hẳn nhà cầm quyền đã nhận ra rằng: Hiến pháp và pháp luật hiện hành không cho phép họ cản trở quyền biểu tình của công dân. Ban hành luật về biểu tình thì họ hoàn toàn không muốn, vì dù quy định ngặt nghèo đến đâu đi nữa thì vẫn sẽ "lọt lưới" một số cuộc biểu tình. Vậy phải làm thế nào bây giờ?

Lợi dụng thời cơ sửa đổi Hiến pháp, họ đã sửa Điều 69 của Hiến pháp 1992 như sau:
"Điều 26: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật."
Điều gì thay đổi ở đây? Họ đã xóa hai từ "có quyền" trước đoạn "được thông tin" và trước đoạn "hội họp, lập hội, biểu tình". Đồng thời, họ dùng chữ "được" (vốn dĩ chỉ là một thành phần của từ "được thông tin") thay cho hai từ "có quyền" ấy.  Để làm gì? Để xóa bỏ những quyền cơ bản đó của công dân. Từ chỗ công dân luôn "có quyền" (kể cả khi không có luật hoặc chưa có luật liên quan), bây giờ bị tước "quyền"và "quyền" bị hạ cấp xuống thành những thứ "được" ban phát. Mà "được… theo quy định của pháp luật" thì cũng có nghĩa là "chỉ được… theo quy định của pháp luật". Tức là công dân "chỉ được"ban phát nếu nhà cầm quyền đã ban hành "quy định của pháp luật". Khi nhà cầm quyền chưa muốn, lờ đi việc ban hành "quy định của pháp luật", thì Dân sẽ không "được thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình".

Đây là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm tước đoạt quyền được thông tin và các quyền hội họp, lập hội và biểu tình của công dân.

Một điều khoản khác rất đáng lưu ý trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là:
"Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng."(Điều 15, Khoản 2)
Điều khoản này là một sáng tạo pháp lý mới mẻ của các nhà lập hiến CHXHCN Việt Nam. Chữ "chỉ" tạo ra ảo tưởng rằng: Điều khoản này nhằm hạn chế những hoàn cảnh màquyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, tức là để bảo vệ các quyền đó. Thế nhưng hậu quả của nó thì ngược lại.

Vốn dĩ, việc "quyền con người, quyền công dân có thể bị giới hạn" không hề được đề cập đến trong Hiến pháp 1992. Nay điều này được nêu đích danh trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp, nhằm hiến định hóa việc chính quyền có thể giới hạn quyền con người và quyền công dân.

Danh sách "lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng" rộng đến mức có thể bao trùm mọi hoàn cảnh thông thường. Cho nên, nhà cầm quyền luôn có thể viện dẫn những lý do đó, nhằm giới hạn quyền con người và quyền công dân, bất cứ lúc nào mà họ muốn. Vì vậy, việc nhét chữ "chỉ" vào điều khoản ấychẳng hề có tác dụng hạn chế phạm vi hành động của giới cầm quyền, mà chỉ ngụy trang, che đậy mục đích hiến định hóa ấy mà thôi.

Điều khoản kể trên quy định rằng "quyền con người, quyền công dân… có thể bị giới hạn", nhưng lại không viết rõ ai và cấp nào có quyền giới hạn. Điều đó mở đường cho bộ máy cầm quyền các cấp có thể can thiệp tùy tiện vào quyền con người và quyền công dân.

Như vậy, Điều 15, Khoản 2 cũng là một thủ đoạn pháp lý tinh vi, nhằm thu hẹp quyền con người và quyền công dân.

Hai ví dụ kể trên nhắc nhở mọi người phải hết sức cảnh giác với những bẫy pháp lý đã được cài trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp.


Giữ chút quyền Dân

Trong tham luận trình bày tại phiên họp Quốc hội vào buổi sáng ngày 16/11/2012, Luật sư Trương Trọng Nghĩa (Đại biểu Quốc hội khóa XIII của Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam) đã "đề nghị một quan điểm, một nguyên tắc", đó là:
"Thành tựu của Hiến pháp 1992 cần được bảo vệ và tiếp tục phát huy, đặc biệt nguyên tắc Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, phát huy các quyền tự do cơ bản của nhân dân trên mọi mặt. Do đó, chỉ nên sửa đổi Hiến pháp 1992 nếu phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ, chú trọng đổi mới đồng bộ chính trị và kinh tế, nhờ thế tạo động lực mạnh mẽ hơn cho giai đoạn cách mạng mới. Nếu không làm được như vậy thì không nên sửa lặt vặt."
Tiếc rằng, đề nghị hợp lý và sáng suốt này chưa được phản ảnh đúng mức trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Không "phát huy hơn nữa các quyền tự do, dân chủ", như Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, mà ngược lại, dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã cắt giảm nghiêm trọng quyền con người và quyền công dân.

Dân không quan tâm nhiều đến việc ghế lãnh đạo được hoán vị ra sao và quyền lực được chia lại thế nào. Họ đủ thông minh để hiểu rằng: Những tiến bộ được tung hô, như việc bỏ hiến định về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, có thể là một bước tiến trong tư duy của giới lãnh đạo và giới lý luận, nhưng sẽ chẳng tác động mấy đến thực tế cuộc sống. Khi không còn được gán cho vai trò chủ đạo, thì thành phần kinh tế nhà nước sẽ được giũ bớt trách nhiệm đối với nền kinh tế quốc dân, nhưng lại vẫn tiếp tục được hưởng mọi sự o bế và ưu tiên. Đó là lãnh địa lý tưởng cho tham nhũng, là đại lộ thông thoáng để tuồn tài sản toàn dân vào túi các quan tham.

Dân quan tâm nhất là các quyền lợi thiết thân, trong đó có quyền sở hữu đất đai.

Như đã trao đổi trong bài "Hai tử huyệt của chế độ", quy định trong Hiến pháp 1992 vềquyền lãnh đạo mặc nhiên của ĐCSVN (Điều 4) và đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17) là hai vấn đề tồn tại then chốt. Chúng phải được khắc phục sớm, vì Dân, vì Nước và cũng vì chính ĐCSVN. Thế nhưng, hai quy định này vẫn được dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo lưu, trong khi quyền con người và quyền công dân lại bị thu hẹp đáng kể.

Đối với Dân, Hiến pháp kiểu này có thể trở thành bãi mìn pháp lý. Nếu dự thảo như vậy được thông qua, thì Hiến pháp có thể không còn là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của Nhà nước và xã hội, mà trở thành cái gông cùm Nhân dân và Dân tộc.

Chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện cái tâm và tầm của các tác giả, không chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia soạn thảo, mà kể cả những vị ngồi trên cao để chỉ đạo và áp đặt. Nếu chỉ hạn chế về tầm, tức là do trình độ hay do sơ suất, thì Nhân dân có thể góp ý để bù lại. Nhưng những ví dụ được đề cập ở trên cho ta ấn tượng là: Những thay đổi theo hướng tiêu cực trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được tiến hành một cách có chủ ý và được tính toán kỹ lưỡng. Thậm chí, họ đã vận dụng cả những thủ thuật và thủ đoạn pháp lý tinh vi để thực hiện và che đậy mục đích đó. Khi tâm đã như vậy, thì liệu việc góp ý của Nhân dân có đủ để lay chuyển được quyết tâm sắt đá của họ hay không?Thật khó mà tin rằng họ có thể sữa chữa bản dự thảo để đưa ra một Hiến pháp thực sự tử tế với Dân.

Vì vậy, để bảo vệ quyền con người và quyền công dân, thì nên tạm dừng việc sửa đổiHiến pháp 1992. Hãy đợi đến một thời điểm thuận lợi hơn, khi tầm đã đủ cao và tâm đã đủ ổn, rồi hãy thay đổi Hiến pháp một cách căn bản, theo chiều hướng tiến bộ, để có được một bản Hiến pháp thể hiện ý nguyện của Dân, do Dân và vì Dân.


Hà Nội, 15/01/2013

Quyền cơ bản trong vương quốc dân chủ hàng đầu thế giới

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức 
Đan Mạch là một vương quốc, tức có Vua. Với tổng số dân non 5 triệu rưỡi chỉ chừng 1/16 Việt Nam, nhưng GDP gấp gần 3 lần Việt Nam; tính ra 1 người Đan Mạch làm bằng 43 người Việt Nam cộng lại. Được xếp thứ hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới, nhưng thiết chế nhà nước họ không thuộc mô hình dân chủ mà là quân chủ “đặc biệt“. Vai trò nhà Vua vừa mang tính biểu tượng tinh thần như Thái Lan, “thiêng liêng bất khả xâm phạm“ (điều §13 Hiến pháp 1953), vừa thực quyền nắm cả lập pháp “cùng với Quốc hội“, lẫn trọn “ hành pháp“, được quy định tại điều §3. Nhưng khác Vua trong chế độ phong kiến ở chỗ: 1- “Toà án thực hiện quyền tư pháp độc lập (điều §3 câu 3) nghĩa là Vua không thể ra lệnh cho Toà, mà còn phải thừa nhận án quyết; 2- Quốc hội gồm Vua và tới 12 Đảng phái đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia, bình đẳng ý kiến với vua chứ không phải dưới quyền vua; 3- “Các bộ trưởng phải tự chịu trách nhiệm trong công việc điều hành của chính phủ“, (điều §13, câu 2) thường do Liên minh các đảng phái thắng cử nắm, do dân bầu chứ không phải Vua ban, nên không thể lấy uy hoặc đổ trách nhiệm cho Vua, 4- Đặc biệt, Vua không đứng trên Hiến pháp như trong chế độ phong kiến mà “phải tuyên thệ không được vi phạm Hiến pháp“ (điều §8). Vậy quyền cơ bản được Hiến pháp họ đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự chặt chẽ như thế nào để chế tài được nhà Vua, bộ máy nhà nước, các đảng phái, bảo đảm cho dân họ đúng chủ nhân đất nước, chứ không phải Vua, nhà nước hay đảng phái ?
1. Quyền cơ bản
Như đa số các quốc gia, điều §71 điểm (1) Hiến pháp Đan Mạch quy định quyền “tự do cá nhân“ là “bất khả xâm phạm“. Tuy nhiên để quyền đó không bị quyền lực nhà nước xâm hại, hiến định trên được kèm theo chế tài trách nhiệm nhà nước: “Không một công dân nào vì lý do chính trị hay tôn giáo, hay nguồn gốc xuất thân, có thể bị tước quyền tự do dưới bất kỳ hình thức nào“. Khi hạn chế quyền tự do đó, nhà nước cũng phải tuân thủ quy phạm, thước đo, chuẩn mực, được hiến định ở điểm (2): “Chỉ có thể tước quyền tự do theo một đạo luật“. Và ngay cả khi ban hành đạo luật cũng không có nghĩa Vua, quốc hội được quyền tùy ý, đạo luật đó phải tuân theo quy tắc xử sự: 1- “(3) Ai bị bắt giữ, trong vòng 24 tiếng phải giao cho chánh án câu lưu quyết định. Nếu không thể thả bổng họ, chánh án phải nhanh như có thể trong vòng 3 ngày, ra án trát có nêu lý do, quyết định tiếp tục tạm giam giữ hay cho tại ngoại với điều kiện nộp tiền thế chân ở mức nào và dạng nào“. 2- “(4) Đương sự được quyền lập tức chống lại án trát bắt giữ lên toà cao hơn“.
2. Quyền nơi ở
Về quyền nơi ở, khác Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ở ta (DTHP) chỉ nêu quyền tự nhiên đó của công dân, Hiến pháp họ, điều §72 chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm “nơi ở bất khả xâm phạm“. Khi xảy ra tình huống phải hạn chế quyền đó, như “lục soát, thu giữ đồ đạc, tìm kiếm thư từ văn bản, khám xét các bí mật giao dịch bưu điện, điên thoại thư tín“, chỉ được phép “khi có lệnh toà án, nhưng cũng chỉ trong trường hợp không có văn bản lập pháp nào cấm lệnh đó“.
3. Quyền sở hữu
Quyền sở hữu vừa là quyền cơ bản, vừa là nền tảng tồn tại của nền kinh tế thị trường vốn theo đuổi mục đích lợi nhuận, còn nếu không người ta chẳng theo đuổi lợi nhuận làm gì, một khi có tiền mà không thể sở hữu tài sản. Vì vậy điều §73, điểm (1) Hiến pháp họ hiến định “Quyền sở hữu là bất khả xâm phạm“. Để bảo đảm quyền đó, nhà nước bị chế tài “không một ai có thể bị ép buộc phải nộp tài sản“, ngoại trừ tình huống “lợi ích cộng đồng đòi hỏi“, nhưng phải tuân thủ điều kiện: 1- “phải thông qua một văn bản lập pháp“ nghĩa là áp dụng cho mọi đối tượng do đạo luật đó điểu chỉnh chứ không phải cho một số con người cụ thể, nói cách khác công bằng đối với mọi người trong cộng đồng. 2- “phải bồi thường hoàn toàn“.
4. Quyền sở hữu đất đai
Trong lúc ở ta đất đai vẫn hiến định sở hữu toàn dân, do nhà nước nắm giữ - nguyên lý bất di bất dịch của nền kinh tế quản lý tập trung nhằm mục đích hoàn thành kế hoạch nhà nước, phân biệt với bản chất nền kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận. Ở họ nhà nước bị chế tài bảo đảm quyền sở hữu đất đai rất ngặt nghèo thậm chí hậu hoạ có thể giải tán quốc hội, được hiến định tại điểm (2) “Trong trường hợp một dự luật quốc hữu hoá đất đai nào đó được thông qua, trong vòng 3 ngày, Quốc hội chỉ cần ít nhất 1/3 số phiếu đồng thuận, có quyền đòi nhà Vua phải tạm ngừng ký lệnh ban hành cho tới khi một cuộc bầu cử Quốc hội mới được thực hiện để thông qua dự thảo mới“. Khi tranh chấp xảy ra do quốc hữu hoá, nhà nước phải tuân thủ quy tắc xử sự tại điểm (3) “Mọi vấn đề liên quan tới tính chất pháp lý của qúa trình quốc hữu hoá cũng như trị giá bồi thường, có thể được giải quyết thông qua toà án. Kiểm tra giá trị bồi thường có thể thông qua 1 đạo luật giao cho toà án phán quyết“ không hề liên quan tới Vua hay cơ quan hành chính, hành pháp, bởi những đối tượng này chính là một bên trong tranh chấp. Ở ta tranh chấp đất đai sở dĩ bùng nổ kỷ lục, trước hết do thiếu những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự chế tài trách nhiệm nhà nước lẽ ra phải được hiến định, để thu hồi đất như ở họ không bị phụ thuộc vào động cơ và nhận thức của cơ quan hay người hành xử, lại giao cho nhà nước toàn quyền hành xử; nghĩa là đặt số phận tài sản đất đai do người dân sở hữu (dù sở hữu quyền sử dụng) vào tay nhà nước; nay vẫn được DTHP giữ nguyên tại điều 58, điểm 3: “Nhà nước thu hồi đất… có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế - xã hội“. Luật thu hồi là do nhà nước định, thu hồi có thực sự vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án hay không và vì ở mức độ nào đều do nhà nước quyết định, chứ không phải chủ sở hữu. Quyền sở hữu của người dân lại do nhà nước tự định đoạt như vậy không đúng với khái niệm sở hữu hiểu theo nghĩa phổ quát trên thế giới, chỉ hữu danh vô thực. Một khi nhà nước được trao quyền lực thu hồi đất đai, mà không bị chế tài trách nhiệm bằng những quy phạm bảo đảm đúng nội hàm quyền sở hữu cho người dân, thì tranh chấp đất đai vẫn luôn tiềm ẩn bùng nổ, đẩy người dân với nhà nước thành 2 bên chiến tuyến, rốt cuộc chỉ quan tham đắc lợi trên sự bần cùng khốn khó của nạn nhân.
5. Quyền lao động và an sinh
Hiến định về quyền lao động và an sinh, DTHP ở ta cũng chỉ nêu chung chung, không hề có chuẩn mực thước đo nào chế tài trách nhiệm nhà nước, ở Hiến pháp họ, điều §75 điểm (1) quy định: “Bảo đảm cho bất kỳ công dân nào có khả năng lao động đều có thể làm việc trang trải đủ cuộc sống tối thiểu“. “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ, với điều kiện họ phải thực hiện các trách nhiệm do một đạo luật quy định“. Như vậy quyền lao động và an sinh không còn dừng lại ở quyền tự nhiên như ăn uống, thức ngủ, xin cho, yêu ghét, vốn do người dân tự lo lấy dù ở nhà nước, thời đại nào, đưa vào hiến pháp hay không, mà trở thành quyền cơ bản - loại quyền, nhà nước bị chế tài phải bảo đảm theo đúng những chuẩn mực thước đo đã hiến định, không thể làm khác.
6. Quyền học tập
Tương tự, về quyền học tập, điều §76 hiến pháp nước họ quy định: “Tất cả trẻ em ở lứa tuổi đi học, nhà nước phải đảm bảo miễn học phí tại trường công lập. Cha mẹ hoặc người giám hộ phải tự lo cho chúng tới các trường học theo chuẩn công lập, nhưng không có trách nhiệm buộc chúng phải học trường công lập“. Nghĩa là Hiến pháp họ vừa chế tài được trách nhiệm nhà nước bảo đảm chắc chắn quyền cơ bản học tập cho bất kỳ trẻ em nào, vừa bảo đảm quyền cha mẹ tự do chọn nơi học tập cho con cái họ, nhà nước không được phép can thiệp vì con họ đẻ ra chứ không phải nhà nước đẻ ra.
7. Quyền tự do ngôn luận
Quyền tự do ngôn luận được họ hiến định trực tiếp trách nhiệm nhà nước tại điều §77: “Kiểm duyệt hay sử dụng bất cứ biện pháp nào ngăn cấm đều không bao giờ được phép“. “Ai không bị toà án cấm đều có quyền thể hiện công khai mọi suy nghĩ của mình dưới dạng ngôn ngữ hình ảnh và chữ viết“. Như vậy hạn chế quyền tự do ngôn luận chỉ được thực hiện nếu trực tiếp gây thiệt hại bị khiếu kiện và trong trường hợp đó hoàn toàn do toà án phán quyết, chứ không phải Vua hay cơ quan lập pháp, hành pháp, thấy đụng tới mình là cấm. Nói cách khác hạn chế quyền tự do ngôn luận cũng tương tự như quyền cầm dụng cụ, gậy gộc, động thủ chân tay; nhà nước không được phép kiểm soát thân thể để xem có gậy gộc hay chân tay hung bạo hay không (kiểm duyệt) và càng không thể cấm khi họ chưa có hành vi gây thiệt hại, và nếu có chăng nữa cũng phải do toà phán xét.
8. Quyền tự do tụ tập biểu tình lập hội
Do xưa nay không được thực thi đầy đủ trong các nước xã hội chủ nghĩa, ngoại trừ nhà nước đứng ra tổ chức, nên quyền tự do tụ tập, biểu tình, lập hội ở ta còn mơ hồ, thậm chí có Đại biểu Quốc hội còn miệt thị là “ô nhục“ ngay trên nghị trường mà ở các nước hiện đại chắc chắn phải từ chức, nhưng ở tuyệt đại bộ phận quốc gia trên thế giới là sinh hoạt thường nhật hiển nhiên giống như quyền ăn ở đi lại làm việc... Về quyền lập hội, Hiến pháp họ, điều §78 quy định thước đo chuẩn mực giới hạn quyền này và chế tài trách nhiệm nhà nước rất chặt chẽ, người dân khó có thể làm sai và nhà nước không thể tự quyền: “(1) Công dân có quyền không cần xin phép trước, thành lập hội đoàn theo những mục đích mà luật pháp không cấm“. “(2) Những hội đoàn sử dụng bạo lực hoặc tìm cách đạt tới tư tưởng khác bằng con đường bạo lực, kích động bạo lực hoặc những biện pháp hình sự tương tự sẽ bị toà ra án trát giải tán“, tức hội đoàn được coi như con người chỉ bị cấm khi có hành vi phạm pháp chứ không thể cấm đẻ ra nó. “(3) Không hội đoàn nào có thể bị chính phủ giải tán. Có thể tạm thời cấm nhưng ngay lập tức phải đệ đơn ra toà đòi giải tán“. “(4) Cáo buộc đòi giải tán các hội đoàn chính trị có thể được xét xử tại toà án tối cao“. “(5) Thủ tục pháp lý giải tán hội đoàn được quyết định bởi một đạo luật“.
Cũng chặt chẽ như điều §78, quyền biểu tình được hiến định tại điều §79: “Công dân có quyền không cần giấy phép cấp trước, tụ tập biểu tình không có vũ khí. Cảnh sát có quyền tham dự các cuộc tụ tập biểu tình đó. Tụ tập biểu tình ngoài trời có thể bị cấm, nếu có khả năng thực tế gây mất an toàn xã hội“. Chế tài trách nhiệm nhà nước đối với quyền biểu tình được hiến định tại điều §80: “Các cuộc đụng độ khi biểu tình, nếu không bị tấn công, các lực lượng giữ gìn an ninh được trang bị vũ khí chỉ được quyền can thiệp sau 3 lần đòi giải tán với nhân danh nhà Vua và công lý“.
Chế độ nào cũng vậy, dù quân chủ hay dân chủ, thần quyền hay đảng quyền, quyền lực cũng được trao cho bộ máy nhà nước thực thi. Bộ máy đó không phải siêu tự nhiên từ trên trời rơi xuống toàn tâm toàn ý vì dân mà cũng chỉ do một bộ phận từ nhân dân đảm đương với mục đích mưu sinh, hiếm ai tránh khỏi tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố đời thường. Hiến pháp vì vậy chỉ có giá trị sử dụng, một khi nó đưa ra được những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự đủ sức chế tài trách nhiệm nhà nước - tức bộ phận người dân được trao quyền lực, phải bảo đảm quyền cơ bản cho mọi người dân chứ không phải chỉ cho chính họ, nếu không hiến pháp chỉ có giá trị trên văn bản!
(Đã được biên tập đăng trên Tia Sáng)
N.S.P.

Quyền cơ bản, Hiến pháp cho mới có?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Quyền cơ bản được coi là đặc trưng của một nhà nước dân chủ. Hiến pháp Việt Nam năm 1992 có 44 điều về “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp Việt Nam năm 1992 hiện nay (DTHP) có 38 điều về “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Hiến pháp Trung Quốc 1982, sửa lần cuối 2004 có 33 điều.
Quyền cơ bản là một phạm trù chính trị luật học, nội hàm bao gồm quyền công dân và quyền con người được phân thành 26 quyền: quyền được bảo vệ nhân phẩm, quyền được toà án tuyên phán, quyền bình đẳng trước pháp luật, tự do tín ngưỡng nhận thức, tự do biểu đạt ý kiến, được bảo vệ hôn nhân gia đình, bí mật thư tín, khiếu nại, chỗ ở không bị xâm phạm, sở hữu không bị chiếm đoạt, chuyển quyền sở hữu theo văn bản lập pháp, học hành được nhà nước bảo hộ, quyền cha mẹ, quyền tỵ nạn, quyền được trình bày trước toà, được pháp luật bảo vệ, được toà tuyên phán khi tước bỏ quyền cơ bản nào đó, bảo đảm trình tự pháp lý khi bị tước quyền tự do, quyền tự do lưu trú, tự do nghề nghiệp, bình đẳng tham gia vai trò lãnh đạo quản lý trong bộ máy chính quyền, tự quyết định quốc tịch, tự do lập hội, tự do hội họp biểu tình, chống lại các hành vi vi hiến, bầu và ứng cử. Quyền công dân cũng là quyền con người, khác mỗi chỗ có hiệu lực chỉ riêng công dân nước đó, trong khi quyền con người có hiệu lực đối với cả mọi công dân từ các nước khác tới. Trong số hơn 3 triệu người Việt sống khắp thế giới, hơn nửa mang quốc tịch Việt Nam chỉ hưởng quyền con người, không hưởng quyền công dân nước họ.

Quyền cơ bản trước hết là quyền tự thân, phân biệt con người với động vật, “tạo hoá cho họ”, tức nằm sẵn trong chính con người. Nhưng không phải tất cả mọi quyền tự thân; bởi liệt kê trên không hề đề cập tới những quyền tự nhiên, như sinh lý, ăn, ngủ, thở… hay quyền kinh tế mua bán, vay mượn, đổi chác, hoặc tình cảm yêu đương, hiếu, hỷ… vốn mang tính tuyệt đối hiểu theo nghĩa luôn tồn tại trong bất cứ xã hội nhà nước nào dù dân chủ hay không, mà chỉ những quyền được nhà nước do người dân sinh ra phải chịu trách nhiệm pháp lý bảo đảm cho họ: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án bảo vệ, mới được gọi là quyền cơ bản. Hiến định quyền cơ bản vì vậy đồng nghĩa với hiến định trách nhiệm pháp lý nhà nước phải bảo đảm quyền con người đã được hiến định. Nguyên lý đó được hiến pháp Đức quy định ngay tại điều 1, “Quyền cơ bản có hiệu lực trực tiếp, ràng buộc lập pháp, hành pháp và tư pháp phải bảo đảm”. 

Như vậy quyền cơ bản không phải cứ ghi vào hiến pháp là có, mà chỉ khi chế tài được nhà nước chịu trách nhiệm bảo đảm nó mới có. Chức năng soạn thảo hiến pháp, do vậy, một khi đã hiến định quyền cơ bản nào, thì phải xác định được ở các khoản mục tiếp theo các quy phạm chế tài nhà nước thích ứng. Hiến pháp Mỹ còn không đưa ra điều khoản quyền cơ bản, như tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí, biểu tình, hội họp chẳng hạn, mà hiến định trực tiếp trách nhiệm nhà nước: “Quốc hội không được phép ban hành luật quy định tôn giáo nhà nước, cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận báo chí, hoặc hạn chế quyền biểu tình hội họp…” (Tu chính số I). Hay Hiến pháp Nga, điều 29 về “quyền tự do truyền thông báo chí”, quy định “cấm (nhà nước) kiểm duyệt”.

Còn Dự thảo Hiến pháp (DTHP) nước ta? Có thể phân tích trường hợp điển hình, Điều 21: “Mọi người có quyền sống”. Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ và Việt Nam đều chung câu: “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng… trong những quyền ấy, có quyền được sống”. Quyền được sống ở đây hiểu là quyền sống bình đẳng ngang nhau, chứ không phải sống nô lệ thuộc địa (Hoa Kỳ và Việt Nam trước đó đều thuộc địa), không mang nghĩa sự sống sinh lý. Vậy quyền sống ở điều 21 DTHP hiểu theo 1- cuộc sống bình đẳng, hay 2- sự sống? Nếu hiểu theo 1 thì phải ghi rõ “có quyền sống bình đẳng” để không nhầm lẫn với sự sống, nhưng lại trùng với điều 17 DTHP. Nếu hiểu theo 2, thì liệu nhà nước ta đã chuẩn bị đủ tiền đề bảo đảm nó được thực thi, một khi được coi là quyền cơ bản, nếu không sẽ bị viện tới toà án bảo vệ? Hiến pháp Nga, điều 20 ghi: “1. Mỗi người có quyền quyết định đối với sự sống của họ. 2- Cho tới khi hủy bỏ án tử hình, một văn bản lập pháp cấp Liên bang có thể quyết định hình phạt tử hình …”. Như vậy điều 20 Hiến pháp Nga chỉ nhằm quá độ để nhà nước đi tới bỏ án tử hình. Hiến pháp Đức điều 2 ghi: “(2) mỗi người có quyền quyết định sự sống và toàn vẹn cơ thể”. Từ đó bộ Luật Hình sự Đức không có hình phạt tử hình và cấm mọi hình thức tra tấn, khủng bố tinh thần. Nhưng vấn đề không đơn giản vậy, để thực thi điều 2 chỉ gọn 13 từ, nhà nước phải đối mặt với vô vàn câu hỏi nảy sinh trong thực tế: Liệu bác sỹ giúp người sống thực vật được chết hay nạo thai có vi phạm quyền quyết định sự sống? Sự sống tính từ thai nhi hay từ khi ra đời? Hiến tạng có vi phạm quyền được toàn vẹn cơ thể, và lúc nào thì được gọi là chết để hiến nó? Bắn máy bay đang chở khách bị bọn khủng bố cướp có vi phạm điều 2…? 
Lẽ dĩ nhiên, nước nào quyết định hiến pháp nước đó, có thể tùy ý đưa mọi quyền con người vào hiến pháp mà không cần chế tài trách nhiệm nhà nước; nhưng trong thời đại hội nhập toàn cầu ngày nay không thể bất chấp những nguyên lý khoa học mang tính phổ quát; một khi đã đưa vào hiến pháp mà không hoặc không thể thực hiện, thì bản hiến pháp đó sẽ vĩnh viễn mất uy danh tối thượng và nhà nước đó luôn bị coi vi hiến trong con mắt thế giới!
Còn nếu quyền sống, điều 21 DTHP đưa ra tương tự quyền sinh lý, ăn, uống, thở, nhìn, nghe… là những quyền tự nhiên, tuyệt đối, vốn không thuộc nội hàm quyền cơ bản, thì không thể đưa vào hiến pháp. Nhầm lẫn về quyền tự nhiên tuyệt đối với quyền cơ bản lặp lại tương tự tại điều 35: “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh”. Trách nhiệm này, chỉ các nước hiện đại mới chế tài được nhà nước bảo đảm cho người dân, như Đức hiện bất kỳ người dân nào, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức không có thu nhập đều được cấp 374 Euro/tháng/người cộng tiền thuê nhà, điện nước, các chi phí đột xuất, cưới xin, tang lễ, sinh nở, tai nạn; chữa bệnh, học hành đều miễn phí; được gọi tiêu chuẩn Hartz IV; cấp qúa muộn hoặc thiếu họ kiện ra toà. Còn nếu coi điều khoản trên theo nghĩa, công dân đóng phí hưu trí được hưởng hưu trí, đóng bảo hiểm sức khoẻ được chữa bệnh miễn phí, tức thuộc quan hệ mua bán bảo hiểm, thì đó là quyền tự nhiên, tuyệt đối, bất cứ nhà nước nào, thời đại nào cũng vậy cả, không thuộc quyền cơ bản. Tương tự điều 36: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”. Chắc chắn nhà nước Việt Nam không thể cấp Hartz IV như Đức. Vậy có nghĩa người dân tự tìm lấy nơi ở, là quyền tự nhiên tuyệt đối không thuộc nội hàm quyền cơ bản. Điều 38: “Công dân có quyền làm việc”, đồng nghĩa hiến định nhà nước có trách nhiệm bảo đảm việc làm cho họ. Chưa nước hiện đại nào làm nổi điều đó. Còn nếu hiểu làm việc là quyền tự nhiên, tuyệt đối, chẳng nhẽ sinh ra chỉ nằm, ăn chơi, thì không thuộc nội hàm quyền cơ bản. Ở họ điều khoản trên được thay bằng: “Quyền tự do nghề nghiệp việc làm”, nghĩa là nhà nước không được phép can thiệp và không để ai cưỡng bức họ. Điều 39 quy định “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn”; dù có không hiến định cũng chẳng nhà nước nào cấm nổi, tức quyền tự nhiên tuyệt đối, không thuộc quyền cơ bản. Thực ra có thể hiến định: quyền tự do kết hôn và ly hôn, để chống cưỡng ép hôn nhân. Tương tự, điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”; điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ”; điều 43 “quyền nghiên cứu khoa học”; điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá; điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (đến các nước hiện đại nhất cũng không thể, chỉ hạn chế ô nhiễm!). Đặc biệt điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập”; đã là quyền và nghĩa vụ thì giống như nghĩa vụ quân sự mang tính bắt buộc, nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực thi; liệu nhà nước ta có đủ tài chính phổ cập phổ thông miễn phí, cấp học bổng cho đại học, học nghề, hay trẻ em bị án tù phải bố trí giáo viên dạy phổ thông trong tù cho chúng như ở Đức? Còn nếu coi đó là quyền tự nhiên tuyệt đối thì không cần đưa vào hiến pháp, bởi chẳng nhà nước nào có thể cấm hay bắt họ học được. 

Lẽ dĩ nhiên, nước nào quyết định hiến pháp nước đó, có thể tùy ý đưa mọi quyền con người vào hiến pháp mà không cần chế tài trách nhiệm nhà nước; nhưng trong thời đại hội nhập toàn cầu ngày nay không thể bất chấp những nguyên lý khoa học mang tính phổ quát; một khi đã đưa vào hiến pháp mà không hoặc không thể thực hiện, thì bản hiến pháp đó sẽ vĩnh viễn mất uy danh tối thượng và nhà nước đó luôn bị coi vi hiến trong con mắt thế giới!

Không chỉ nhiều điều khoản quyền cơ bản không đưa ra được quy phạm chế tài nhà nước bảo đảm quyền đó, mà còn trao cho nhà nước quyền hạn chế nó thiếu chuẩn mực thước đo, tất nảy sinh lạm quyền, phủ định lại quyền hiến định, đã được chứng minh bởi thực tế mọi bê bối bức xúc bất bình ở nước ta hiện nay đều bắt nguồn từ sự lạm dụng chức quyền, vụ lợi. 

Điều 15 DTHP, điểm 1, mệnh đề đầu: “Quyền con người, quyền công dân được nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng bảo vệ”, tức xác định rõ trách nhiệm nhà nước, có thể tìm thấy ở hầu hết hiến pháp trên thế giới hiện nay. Nhưng mệnh đề tiếp theo: “THEO hiến pháp và pháp luật” vốn được hiểu gồm tất cả các văn bản lập pháp, lập quy, chỉ thị, do bất kỳ cơ quan nào trong bộ máy nhà nước ban hành. Điểm 2 còn nhấn mạnh tiếp, các quyền trên bị giới hạn “trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức, sức khoẻ cộng đồng”, mà không hề định lượng cần thiết ở mức nào, giới hạn ra sao, nghĩa là bỏ mặc cho quan chức hành xử tự đo lường. Nếu nhà nước vừa chịu trách nhiệm lại vừa tự quyết định mà bảo đảm được quyền cơ bản, thì bất cứ nhà nước nào trong lịch sử nhân loại từ nô lệ tới nay đều bảo đảm được cả, không cần đến hiến pháp dân chủ phải chế tài nhà nước mới bảo đảm được quyền cơ bản cho người dân. 

Không hiếm quyền cơ bản không thể tránh được những tình huống giới hạn; nhưng như ở Nga, để giới hạn quyền tự do và nhân phẩm, điều 22 Hiến pháp quy định bắt người phải có trát toà cấp trong vòng 48 tiếng kể từ lúc bắt; hay điều 23 quy định quyền bí mật thư tín điện thoại, nếu giới hạn phải có quyết định toà án. Hiến pháp Đức, quyền cơ bản nào bị giới hạn đều có câu thông qua “một văn bản lập pháp”, nghĩa là quyết định bởi cơ quan quyền lực cao nhất và có hiệu lực đối với mọi người chứ không phải một cá nhân để cưỡng bức họ. Chưa đủ, để tránh chính văn bản lập pháp vi hiến, điều 19 quy định khi giới hạn quyền cơ bản: “Trong bất luận trường hợp nào, đều không được phép đụng tới bản chất quyền cơ bản vốn bất khả xâm phạm… Bảo đảm cho người bị giới hạn quyền cơ bản được quyền pháp lý chống lại (viện tới toà án)”. Còn để tránh người dân lạm dụng quyền cơ bản phạm luật, điều 18 quy định tước bỏ quyền cơ bản mà người đó lạm dụng, nhưng bằng “án quyết của Toà Hiến pháp”. 

Mệnh đề “theo Hiến pháp và pháp luật” được DTHP lặp lại nhiều lần, tại điều 22 quy định “quyền thư tín…”, nhưng “việc bóc mở… do pháp luật quy định”. Điều 24 “công dân có quyền tự do đi lại và cư trú...”, nhưng theo “quy định của pháp luật”; hậu qủa Hà Nội hay bất cứ thành tỉnh nào hạn chế nhập hộ khẩu vẫn đúng Hiến pháp; trong khi cùng hiến định quyền tự do đi lại cư trú như ta, nhưng không điạ phương nào thuộc EU dám cấm dân các nước EU khác đến cư trú nhập khẩu. Điều 26, “công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí…” như bất kỳ hiến pháp Âu Mỹ nào, nhưng khác họ ở chỗ “theo quy định pháp luật”. Tương tự điều 31, “người bị thiệt hại có quyền được bồi thường… theo quy định của pháp luật”; điều 32, người làm trái luật trong việc bắt giữ phải bị xử lý theo pháp luật”. 

Theo đúng nguyên lý “logic học hình thức”, tất cả điều khoản “Mọi người có quyền…”, kèm theo mệnh đề “… theo pháp luật” đều được phép chuyển đổi thành: “Mọi người có quyền … do nhà nước quy định”, vô hình trung phủ nhận luôn chức năng hiến pháp sinh ra để chế tài nhà nước – cái giá phải trả do kỹ thuật lập hiến một khi không tuân thủ khoa học logic hình thức.

Ngoài lỗi về giới hạn quyền cơ bản có thể phủ định toàn bộ quyền đó, nhiều câu chữ thay vì sử dụng thuật ngữ pháp lý đưa ra những quy tắc xử sự, thước đo chuẩn mực, cân đong đo đếm được, lại sử dụng ngôn từ nghị quyết đại hội, mang tính kêu gọi định hướng, gây nguy cơ lạm quyền hoặc vô trách nhiệm hoặc không thể áp dụng, hoặc áp dụng tùy thuộc nhận thức, động cơ của cá nhân, cơ quan hành xử. Điều 19 DTHP về quyền của Việt kiều: “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, trích y nguyên nghị quyết Đảng vốn mang tính kêu gọi đoàn kết; trong khi đó, mối quan hệ giữa Việt kiều với trong nước chủ yếu thuộc lĩnh vực tình cảm không phải đối tượng điều chỉnh của pháp luật, đặc biệt khi họ có quốc tịch nước khác. Trong khi Pháp, để hiến định quyền ngoại kiều điều 24 Hiến pháp họ ghi: “Pháp kiều có đại diện trong Thượng viện”. Tương tự, điều 16: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác”; khái niệm “tôn trọng” thuộc ý thức tình cảm không phải đối tượng điều chỉnh của pháp luật, đến bố mẹ cũng không buộc được con cái chứ chưa nói nhà nước Việt Nam đối với 80 triệu công dân họ. Lẽ ra điều 16 có thể diễn đạt như điều 2 Hiến pháp Đức: “Mỗi người có quyền phát triển tự do nhân cách, chừng nào không vi phạm (khác với tôn trọng) quyền của người khác…”. Điều 17, “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Vậy giải thích thế nào về việc hầu hết lãnh đạo trung cao cấp phải đảng viên? Trong khi ở Đức, nhà nước hiện đang kêu gọi tuyển dụng người gốc ngoại quốc vào nhiệm sở công chức; hay đảng nào được dân bầu thì cầm quyền, nhưng bộ trưởng không phải đảng viên họ là chuyện bình thường, và bộ máy hành chính được bố trí mà theo luật tuyển dụng công chức. Đó chính là nội hàm của khái niệm “không phân biệt đối xử”.

Sở dĩ các điều khoản về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, được biên soạn không theo thông lệ hiến pháp thế giới như phân tích ở trên, mặc dù Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia nào đều nhằm “dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh”, là do như ý kiến cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, “theo khuôn mẫu của Cộng hòa Xô Viết, nó không gần với những khuôn mẫu chung của thế giới và có một số quy định cốt lõi lại xa rời với Hiến pháp 1946”.