Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Tại sao từ chối Quyền im lặng?

Luật sư Ngô Ngọc Trai

Xét kỹ thì thấy quyền im lặng chính là một quyền tự do dân chủ của công dân, nếu được triển khai vào luật thì đó sẽ là một bước tiến của nền dân chủ.

Quyền dân sự và chính trị

Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc ra đời năm 1966 mà Việt Nam ký kết tham gia năm 1982 đã viết rằng: Trong các vụ án hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những đảm bảo tối thiểu sau đây: Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
Như vậy nếu không phải là chối cãi theo kiểu chày cối quá đáng thì có thể thấy ngay quyền im lặng là quyền công dân và là quyền con người.
Vấn đề là các nội dung điều khoản của Công ước quốc tế có được lĩnh hội và khai triển vào hệ thống pháp luật trong nước hay không. Có được tôn trọng và thực thi triệt để hay là chỉ là áp dụng quanh co nửa vời.
Ví như cũng Công ước trên có nội dung rằng trong các vụ án hình sự, các bị cáo được hưởng đảm bảo tối thiểu là được xét xử mau chóng, không kéo dài quá đáng.
Nhưng nội dung này không được coi trọng khai triển vào luật, bằng nhiều các quy định pháp luật bất hợp lý, các vụ án hình sự ở Việt Nam thường bị giải quyết kéo dài.
Ví như vụ án Vườn Mít ở Bình Phước kéo dài 10 năm, vụ án Hàn Đức Long ở Bắc Giang kéo dài 9 năm và nhiều vụ án khác.

Vì sao không triển khai?

Lý giải vì sao chưa thể triển khai quyền im lặng vào luật, ý kiến đưa ra là điều kiện thực tế ở Việt Nam chưa cho phép, tiêu biểu cho lối quan điểm này là phát biểu của ông Tiến sĩ Dương Thanh Biểu, nguyên Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trong một bài đối thoại phỏng vấn trên báo VietnamNet ông này đã phát biểu:
“Đối với nước ta, cơ sở vật chất các cơ quan tư pháp còn gặp nhiều khó khăn, số lượng luật sư còn rất khiêm tốn, năng lực, trách nhiệm đội ngũ cán bộ tư pháp chưa đáp ứng yêu cầu, đang trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động nên việc quy định “Quyền im lặng” như thế nào và lộ trình thực hiện ra sao cũng phải được xem xét thận trọng.
Để mỗi quy định của pháp luật khi được ban hành sẽ có sức sống trong xã hội, vừa bảo đảm quyền dân chủ công dân nhưng cũng phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.”
Người ta viện dẫn điều kiện thực tế khó khăn để lý giải việc chưa thể triển khai một chế định pháp lý văn minh tiến bộ.
Điều này cũng giống như việc người ta chối bỏ thực thi các quyền tự do dân chủ của công dân dựa vào lý do trình dộ dân trí chưa thể đáp ứng.


Nhưng thực ra đây chỉ là ngụy biện không chính đáng. Bởi lẽ người ta đã lật ngược nguyên nhân và kết quả.
Vì nếu có thiết chế về quyền im lặng, điều này sẽ buộc các cơ quan tư pháp nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Tránh tình trạng lười biếng trau dồi học hỏi dẫn đến yếu kém năng lực, và tránh việc sử dụng bức cung nhục hình như một phương pháp điều tra giải quyết án.
Nếu có quyền im lặng vai trò của người luật sư được nâng cao, khi bị cáo thấy được tính hữu dụng của người luật sư họ sẽ tìm kiếm nhờ luật sư bào chữa, nghề luật sư theo đó có động lực phát triển và số người hành nghề sẽ tăng lên.
Sự ngụy biện trong quyền im lặng cũng giống như trong vấn đề dân chủ. Người ta cho rằng dân trí thấp nên chưa thể cho thực thi các quyền dân chủ.
Nhưng đúng ra cần phải khai triển các quyền tự do dân chủ như quyền tự do báo chí, quyền tự do xuất bản, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do học thuật… sẽ giúp nâng cao trình độ dân trí và thăng tiến các giá trị con người.
Như thế có thể thấy thiết chế về quyền im lặng cũng như các thiết chế về các quyền tự do dân chủ khác đúng ra nó phải được triển khai để là bệ đỡ nâng cao và khai phóng tiềm năng giá trị con người, thì nay ngược lại người ta cho rằng chưa thể có các thiết chế đó vì điều kiện con người hiện tại chưa đáp ứng.

Vấn đề rộng lớn hơn

Lối ngụy biện tráo trở nguyên nhân và kết quả có nguyên do từ vị thế chỗ đứng mà người ta phán xét. Cái này lại có ngọn nguồn từ một vấn đề rộng lớn hơn mang tính thế giới quan ý thức hệ.
Các ý kiến cho rằng quyền im lặng không phải là quyền con người, hay quyền im lặng sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, hay cần dung hòa giữa việc cho phép thực thi các quyền công dân và nhu cầu đấu tranh xử lý tội phạm, tất cả có ngọn nguồn từ việc người ta không coi trọng các quyền công dân.

Bạo lực của giới công quyền và các vụ án oan sai thường bị giải quyết kéo dài

Bởi vì theo thế giới quan nhận thức của các cán bộ tư pháp hiện nay thì luật hình sự hay luật pháp nói chung, cũng giống như nhà nước chỉ là công cụ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị.
Theo đó mục tiêu của luật pháp không phải là bảo vệ các quyền công dân.
Cho nên dễ hiểu là quyền công dân có thể phải hy sinh vì một mục đích khác.
Ngược lại nếu nhận thức rằng quyền con người là tối thượng, pháp luật và việc xử lý tội phạm chỉ là công cụ phương tiện để bảo vệ quyền con người thì việc quy định và thực thi pháp luật như thế nào sẽ luôn phải soi xét xem nó có đi ngược lại với mục tiêu bảo vệ quyền con người hay không.
Tức là việc bảo vệ các quyền con người sẽ là kim chỉ nam, bảng biểu để đánh giá chấp nhận hay bác bỏ bất cứ một định chế nào.

Bộ phận quan liêu

Thực tế thì vấn đề thế giới quan ý thức hệ không phải luôn được đưa ra để ngăn trở thực thi các quyền tự do dân chủ.
Trong quá trình phát triển đi lên và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật phải hiệu chỉnh theo hướng dân chủ tiến bộ, tránh việc Việt Nam trở thành ốc đảo xa lạ như cách mà một số người vẫn nói.
Và đứng ở góc độ Đảng và Nhà nước mà xét thì quyền im lặng không có phương hại mà ngược lại nó khiến cho các cơ quan tư pháp cấp dưới có trách nhiệm hơn trong công việc, cũng tức là có trách nhiệm hơn trước Đảng và Nhà nước.


Lâu nay không quy định về quyền im lặng dẫn tới bức cung nhục hình và oan sai, xâm hại tới quyền tự do dân chủ của công dân. Điều này khiến dân chúng phẫn nộ, ảnh hưởng tới uy tín của Đảng và Nhà nước.
Hiện tại Đảng và Nhà nước cũng đang có chủ trương cải cách tư pháp, thực thất là đưa các giá trị dân chủ tiến bộ vào hệ thống tư pháp lâu nay vốn mang nặng yếu tố công cụ bạo lực của giai cấp.
Và chế định về quyền im lặng có lẽ là một dạng thức thể hiện cho thấy cải cách tư pháp là một chủ trương được thực hiện thực sự.
Nhưng không phải Đảng và Nhà nước cứ muốn là được.
Vấn đề quyền im lặng và chủ trương cải cách tư pháp cũng giống như nhiều chủ trương chính sách khác đều gặp phải lực cản.
Lực cản ở đây là sự ì trệ bảo thủ và vì quyền lợi ngành ích kỷ của bộ máy hành chính quan liêu.
Nhiều chính sách bị thất bại mà nguyên nhân chính là không thúc đẩy được hệ thống bên dưới dịch chuyển. Ví như các chủ trương như kê khai tài sản, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm cán bộ công chức, đều không đi đến đâu.

Bước tiến của giá trị dân chủ


Nhu cầu phát triển xã hội dân sự đang tăng lên

Nếu chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhận được sự ủng hộ của xã hội dân sự, đó sẽ là lực đẩy khiến cho giới hành chính quan liêu phải thay đổi.
Bằng việc giám sát và lên tiếng sẽ khiến cho lợi ích bất chính bị phanh phui, lợi ích chính đáng được sáng tỏ.
Nhưng muốn xã hội dân sự góp phần thúc đẩy các chủ trương chính sách tới thành công, thì Đảng và Nhà nước phải tăng cường các thiết chế tự do dân chủ, bởi đó là bệ đỡ và là phương tiện của xã hội dân sự.
Chính nhờ thực hiện các quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận, mặc dù còn hạn chế, cho nên những lợi ích chính đáng của những nhóm yếu thế mới có cơ hội được lên tiếng.
Cho nên vấn đề quyền im lặng không còn là sự dung hòa giữa việc cho phép thực hiện các quyền công dân với nhu cầu đấu tranh xử lý tội phạm, mà đó là biểu trưng cho sự đấu tranh giữa những suy nghĩ thành kiến, hẹp hòi, độc tài, phi dân chủ và các giá trị tự do dân chủ.
Và sự thành công hay thất bại quanh vấn đề quyền im lặng sẽ cho thấy quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với xã hội dân sự và nhu cầu đòi hỏi dân chủ hóa đời sống đất nước.
Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, Giám đốc Công ty luật Công chính ở Hà Nội
nguồn: bbcvietnam (do truy cập qua webproxy nên không copy được link)

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Cách trị ho bằng củ hành tây

nguồn: http://www.chuatriviemamidan.com/2014/10/cach-tri-ho-bang-cu-hanh-tay.html

Hành tây là một trong những loại thực phẩm được sử dụng khá phổ biến trong mỗi bữa ăn của người Việt. Không chỉ là một loại thực phẩm có tính kháng viêm cao, mà còn chứa nhiều các loại vitamin A, B, C và chứa nhiều các loại chất Acid folic, canxi, photpho, magiê, crom, sắt và chất xơ rất có lợi cho sức khỏe. Ngoài ra, hành tây còn có tác dụng trong việc trị ho hiệu quả.
Cách trị ho bằng củ hành tây
Tác dụng của củ hành tây trong việc chữa bệnh 
Hành tây có nhiều công dụng chữa một số bệnh, có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn lây nhiễm, có hiệu quả trong việc chống lại bệnh viêm họng, đau họng, ho khan, ho có đờm...
Vị hăng của hành làm giúp lưu thông máu và sự tiết nồ hôi, đặc biệt trong thời tiết lạnh , hành tây có tác dụng tránh nhiễm trùng, giảm sốt giúp người bệnh đổi mồ hôi ra rất tốt cho những trường hợp cảm lạnh, cảm cúm, tăng sức đề kháng cho người bệnh, giúp người bệnh nhanh chóng được phục hồi.
Vậy sử dụng hành tây để trị ho như thế nào
Cách trị ho bằng củ hành tây
Nguyên liệu:
- Hành tây -1 củ
- Đường -1 Muỗng cafe
Cách làm:
Để sử dụng hành tây trong việc trị ho bạn chỉ cần lấy một của hành tây gọt sạch vỏ thái nhỏ bỏ vào bát. Sau đó bạn lấy 1 thìa café đường trộn đều với hành tây đã chuẩn bị, Các bạn để như vậy trong khoảng 1 tiếng rồi cho vào máy xay hoặc bạn cũng có thể dã nhuyễn cho tới khi nát ra nước. Bạn nhớ lọc lấy nước và bỏ bã đi nhé. Sử dụng nước hành tây này uống 3 lần/ngày chia đều sáng, trưa, tối. Mỗi lần uống 1 thìa café nhỏ, uống liên tục trong vài ngày cho tới khi những cơn ho biến mất thì thôi.
Ngoài ra, bạn có thể lấy nước ép hành tây trộn với mật ong nguyên chất để trị ho hiệu quả. Với bài thuốc này bạn có thể uống 3-4 thìa café mỗi ngày. Cách này sẽ giúp bạn làm tiêu đờm và ngăn chặn tạo đờm trong cơ thể. Bạn cũng có thể sử dụng để chống lại bệnh cảm lạnh thông thường cũng rất có hiệu quả.
Có thể sử dụng cách trị ho bằng hành tây cho trẻ tại nhà. Bài thuốc vừa có tính an toàn mà còn mang hiệu quả cao. Tuy nhiên, trong quá trình trị ho bạn cũng cần chú ý tới chế độ ăn uống, sinh hoạt để hỗ trợ tốt hơn trong việc trị ho hiệu quả.
Ps: nếu bạn ngại rắc rối khi làm thì có thể ăn sống 1 củ hành tây chia làm 3 lần/ ngày trong vài ngày, đặc biệt hiệu quả với cảm cúm với triệu chứng : nóng vùng mặt, sổ mũi, ho khan, cảm thấy lạnh trong người.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Lợi ích gì khi VN tham gia vào dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của Trung Quốc ?

nguồn: https://www.facebook.com/nhantuan.truong/posts/937880196243783
Theo tin tức báo chí, VN vừa tham gia dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ. Câu hỏi đặt ra Việt Nam có lợi hay không khi tham gia dự án này ?
Dự án « Con đường tơ lụa trên biển » được Tập Cận Bình đề cập một cách sơ lược vào năm 2013. Dự án này chỉ mới bắt đầu thực hiện vài tháng nay, dự trù một ngân sách 40 tỉ đô la. Mục tiêu dự án là xây dựng hạ tầng cơ sở các hải cảng từ Biển Đông, qua Ấn Độ dương, thông qua biển Đỏ, kinh đào Suez, vào Địa Trung hải để tiếp cận các hải cảng của các nước Châu Âu.
Việt Nam tham gia dự án với hải cảng Hải Phòng là điểm nối đầu tiên. Mã Lai vừa thỏa thuận với TQ để tham gia. Theo dự tính, trong khối ASEAN sẽ còn có mặt của Nam Dương.
Dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ không thể tách rời dự án với các dự án đã thực hiện từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, là dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » cũng như dự án « Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » vừa mới được thành hình vào tháng 3 vừa rồi.
Dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » đã được thành hình từ khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, mục đích nối liền TQ với các nước Trung Á, Trung Đông để đến Châu u. Tức là mở lại con đường mà các doanh nhân Ả Rập ngày xưa đã mở ra để buôn bán tơ lụa giữa các nước Ả Rập với TQ, bao hệ thống đường sắt, gọi là « Bắc Kinh Express », nối liền các thành phố lớn TQ xuyên qua Tân Cương, để đến các thành phố lớn các nước Châu Âu. Ngoài ra còn có các dự án xây dựng hệ thống đường xa lộ. Đồng thời ta không thể quên dự án quan trọng khác là các ống dẫn dầu và khí đốt cũng được đặt trong cùng thời kỳ, từ khu vực biển Caspienne thuộc các nước Trung Á, dẫn năng lượng về đến Thuợng Hải.
Về « Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » thì TQ đề xướng vào tháng 10 năm 2014, với số vốn là 50 tỉ đô la, được sự chấp thuận gia nhập hợp tác của nhiều nước trong G 7 như Anh, Pháp… vào tháng 3 vừa rồi. Ngân hàng này ra đời nhằm để hỗ trợ cho dự án « Con đường tơ lụa trên biển ». Việc xây dựng hạ tầng cơ sở các cảng biển cho đúng tiêu chuẩn quốc tế sẽ rất tốn kém.
Về mục đích, dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » của TQ trước hết nhằm bảo đảm an ninh năng lượng chứ không nhằm xây dựng « trục kinh tế Âu-Á ». Sau đó mở các hệ thống đường xá, xa lộ và đường xe lửa, nối tỉnh lục địa như Vân Nam, Quí Châu, Tân cương, (và Tây Tạng)… ra biển. Các tỉnh này rộng lớn gần bằng ½ lãnh thổ TQ nhưng rất kém phát triển. Hệ thống hạ tầng cơ sở này gồm hai mặt : đường xe lửa và đường xa lộ xuyên qua Miến Điện để ra Ấn Độ Dương ; mặt khác là mở lại đường xe lửa nối Côn Minh (thuộc tỉnh Vân Nam) với hải cảng Hải Phòng.
Về hệ thống đường sắt và đường xa lộ nối các tỉnh Hoa Nam thông qua hải cảng Hải Phòng để ra biển xúc tiến từ năm 2009, gọi là dự án « hai hành lang, một vành đai ». Hành lang thứ nhứt là Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải phòng. Hành lang thứ hai là Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội và Hải Phòng. Vành đai là vịnh Bắc Việt.
Tuyến đường Côn Minh – Hải phòng vốn đã được nhà nước bảo hộ Pháp mở ra từ đầu thế kỷ 20 mà một trong những công trình của nó vẫn còn được dân Hà Nội sử dụng đến nay là cầu Long Biên.
Đến nay thì ta thấy dự án « hai hành lang, một vành đai » đã được sáp nhập vào dự án « Con đường tơ lụa trên biển ».
Như vậy, bề mặt thì mục tiêu các dự án « con đường tơ lụa » trên bộ và trên biển của TQ chỉ thuần túy kinh tế. Nhưng bên trong lại hàm chứa một sách lược hướng ngoại đầy tham vọng của TQ mà điều này đang làm cho nhiều quốc gia lo ngại.
Ta sẽ thấy các dự án con đường tơ lụa của TQ là một bộ phận trong sách lược hóa giải kế hoạch chuyển trục sang Châu Á của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên nó cũng nhằm chống lại thỏa ước kinh tế « xuyên Thái bình dương » mà Hoa Kỳ khởi xướng vài năm nay.
Trục chiến lược của Mỹ, tạm gọi là « trục ngang », tức « trục hoành », liên kết giữa Hoa Kỳ với các đồng minh cũ, mà lần này HK cố gắng lôi kéo VN vào phe mình. Lo ngại của Hoa Kỳ là TQ càng phát triển thì sẽ dành mất ảnh hưởng truyền thống của họ ở vùng Đông Á.
Tham vọng của TQ là xây dựng một « trục dọc, tức trục tung » chiến lược, bao gồm Nga, TQ và có thể các nước Đông Nam Á như VN, Mã Lai và Nam Dương… đồng thời các nước Trung Đông, Châu Phi.
TQ đang ráo riết xây dựng các căn cứ quân sự trên các bãi đá ngầm đã chiếm của VN vào năm 1988 như đá Chữ Thập, đá Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa v.v… Việc này dĩ nhiên nhằm thiết lập vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông. Mục tiêu của việc này nhằm ngăn cản lực lượng không quân, hải quân Hoa Kỳ tiếp cận.
Trong khu vực, vừa khi dự án « con đường tơ lụa trên biển » của TQ ra đời, thì đã có những động thái của các nước khác nhằm đối phó với các kế hoạch của TQ.
Ta thấy Ấn Độ rục rịch với dự án « Gió mùa », mục đích là nhằm liên kết và giao thuơng kinh tế với các nước Đông nam Á. Tức cũng là « con đường tơ lụa trên biển », nhưng đi ngược lại, từ Ấn độ dương đến Biển Đông. Ta cũng thấy Nhật rục rịch cùng lúc với hai trục Nhật - Ấn Độ và Nhật - Úc. Trong khi Hoa Kỳ thì đang gây áp lực để Nam Hàn cho phép đặt hệ thống phòng vệ hỏa tiễn.
Các quốc gia bị ảnh hưởng an ninh quốc phòng hoặc đe dọa chủ quyền lãnh thổ, trước hết có thể là VN, sau đó Phi và Singapour.
Ta thấy cảng Hải Phòng của VN là trạm đầu tiên của « con đường tơ lụa trên biển ». Nhưng vai trò của cảng Hải Phòng chỉ là trạm trung chuyển cho hàng hóa các tỉnh Hoa Nam như Vân Nam, Quí Châu… mà thôi. Nhận thức này lấy từ kinh nghiệm của nhà nước bảo hộ Pháp sau năm 1911.
Thời đó, công ty quản trị tuyến đường Hải Phòng – Côn Minh của Pháp bị lỗ nặng, trong khi thuế quan lại không thu nhiều. Lý do là vì hầu hết hàng hóa chỉ « quá cảnh » qua Hải Phòng, sau đó chuyển đến Hồng Kông, hoặc ngược lại, hàng hóa từ Hồng Kông chuyển qua Hải Phòng để đi Vân Nam. Hàng hóa từ VN không hề « xuất qua » Vân Nam theo tuyến đường xe lửa này.
Các sử gia cho rằng công trình xây dựng đường xe lửa Hải Phòng – Côn Minh là một thất bại lớn lao về kinh tế cho người Pháp.
Thì bây giờ cũng vậy, hàng hóa TQ vốn đã tràn ngập VN, thì nay cũng vô phương cạnh tranh với các tỉnh trong nội địa của TQ. Cảng Hải Phòng cũng sẽ chỉ là trạm trung chuyển mà thôi. Tức là nó chỉ giúp cho các tỉnh Vân Nam, Quí Châu… nối với thế giới bên ngoài. Tức là giúp cho nền kinh tế tại các nơi này phát triển mà thôi.
Trong khi vấn đề tranh chấp lãnh thổ và hải phận trên Biển Đông vẫn còn nguyên, nếu không nói là càng trầm trọng thêm. Việc TQ đang ráo riết xây dựng các đảo hiện nay cho thấy tham vọng của nước này về chủ quyền lãnh thổ. Khi mà các đảo này xây dựng xong, TQ có thể tuyên bố vùng nhận diện phòng không ở Biển Đông. Việc này là một phần không thể tách rời trong sách lược hướng ngoại của TQ mà dự án « con đường tơ lụa trên biển » là một bộ phận.
Singapour lo lắng vì Mã Lai (và có thể Nam Dương) đã đồng ý gia nhập dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ. Các hải cảng của Mã Lai cũng như khu vực chung quanh Kuala Lumpour nếu được xây dựng thì dĩ nhiên sẽ cạnh tranh với Singapour. Cảng Djakarta của Nam Dương cũng vậy. Nơi đây án ngữ eo biển Sonda, là nơi các tàu chở dầu cực lớn đi vào biển Đông (vì không đi qua được eo biển Malacca). Tầm quan trọng chiến lược của eo biển Malacca vì vậy sẽ giảm thiểu.
Mặt khác, theo một thỏa ước mà Singapour đã ký với Anh từ khi mới độc lập, thì hải quân Anh có quyền có mặt thường trực ở hải cảng Changi. Nhưng Anh lại nhượng quyền để hải quân Hoa Kỳ sử dụng hải cảng này. Đồng thời, từ sau Thế chiến II, Anh cũng cho hải quân Hoa Kỳ mướn đảo Diego Garcia trong Ấn Độ dương để xây dựng căn cứ. Bây giờ Anh lại là một thành viên của Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở do TQ đề xướng. Hoa Kỳ lo ngại là điều dĩ nhiên.
Vì vậy, mặc dầu dự án « con đường tơ lụa trên biển » thuần túy về kinh tế, nhưng dự án này lại nằm trong sách lược hướng ngoại của TQ nhằm đối kháng với kế hoạch chuyển trục của Hoa Kỳ.
Từ bao thế hệ nay, tất cả các tranh chấp của con người, Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II, tất cả đều đến từ lý do « kinh tế ». Các tranh chấp giữa các đại cường, từ chuyển trục sang Châu Á hay các dự án « con đường tơ lụa trên bộ » hay « trên biển », đều nhằm mục tiêu chinh phục hay bảo vệ thị trường.
Dĩ nhiên hệ quả của tham vọng đại cường, hay sự đụng độ vì tranh giành ảnh hưởng giữa các đại cường, sẽ đe dọa an ninh và chủ quyền lãnh thổ cho các nước nhỏ chung quanh.
Vấn đề là VN cần có thái độ như thế nào trước tham vọng của TQ ?.
Nếu VN theo TQ để đứng trong « trục chiến lược » của TQ, (như đã thấy qua chuyến đi TQ của Nguyễn Phú Trọng), gồm các nước Nga-TQ-VN-Mã Lai v.v… VN sẽ không có lợi lộc gì.
Miếng bánh « con đường tơ lụa trên biển » trị giá 40 tỉ đô. Miếng bánh « ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » còn lớn hơn, đến 50 tỉ. Nhưng VN sẽ không được một mảnh vụn của hai cái bánh này. Cảng Hải Phòng, nếu có xây dựng, đường xe lửa Vân Nam, Hải Phòng nếu được thiết lập lại, thì VN sẽ không thu được một kết quả kinh tế nào. Kinh nghiệm của nhà nước bảo hộ Pháp ngày xưa cho phép ta kết luận như vậy. Trong khi, vì nhu cầu xây dựng chiến lược, TQ phải chiếm các đảo TS cũng như phần lớn Biển Đông. VN đứng chung với TQ cũng không ngăn được TQ chiếm đảo, chiếm biển của mình.
Trong khi nếu VN đứng trong « trục » của Mỹ, không cần phải nói đến những lợi lộc về kinh tế đem lại cho VN trong kết ước kinh tế « xuyên Thái bình dương » (TPP), thì với quan niệm về an ninh của Mỹ ở Biển Đông cũng đã giúp VN bảo vệ quyền lợi của mình. Hoa Kỳ, qua các tuyên bố mới đây, không muốn TQ xây dựng các đảo nhằm thay đổi hiện trạng. Tức là về an ninh, VN và Hoa Kỳ có chung quan điểm.
Vì vậy, quyết định đi với TQ đồng nghĩa với việc đưa đất nước và dân tộc VN vào vòng lệ thuộc, mà tương lai cháu con không có hy vọng gỡ ra được.

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

Mở lại hồ sơ Biển Đông.

nguồn: https://www.facebook.com/notes/939752169398459/

1/ Sự hiện diện của Trung Quốc ở khu vực biển Trường Sa.

Khu vực biển thuộc Trường Sa có thể giới hạn từ vĩ tuyến 6° đến vĩ tuyến 12°. Sự hiện diện của TQ tại khu vực biển này bắt đầu từ tháng 3 năm 1988, sau khi chiếm được trên tay của VN một số đá, bãi ngầm như đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (cách nhau 30km thuộc nhóm Sinh Tồn), đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Xu bi (thuộc nhóm Thị Tứ), đá Ga ven (nhóm Ba Bình, Nam Yết)... Trước đó, năm 1956, quân của Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) chiếm đảo Ba Bình (Itu-Aba). Đảo này được nhà cầm quyền bảo hộ Pháp tuyên bố chủ quyền ngày 10 tháng 4 năm 1933 và sáp nhập cùng năm vào tỉnh Bà Rịa. 

Việc chiếm đóng đảo Ba Bình của Đài Loan, cũng như việc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa năm 1974, không đem lại cho TQ chủ quyền lãnh thổ ở các nơi đây vì việc chiếm đóng đi ngược lại các nguyên tắc chiếm hữu được quốc tế qui định : Tại Hoàng Sa TQ chiếm hữu bằng vũ lực trong khi tại Ba Bình thì chiếm một lãnh thổ đã có chủ.
Hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá thuộc Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988 lý ra sẽ không đem lại danh nghĩa chủ quyền cho nước này. Nhưng một số dữ kiện liên quan được tiết lộ gần đây cho thấy, trong chừng mực danh nghĩa chủ quyền của TQ (tại các bãi, đá mới chiếm năm 1988) đã được củng cố.
Theo các nhân chứng (trả lời phỏng vấn RFA 19-10-2011) có tham dự trong « cuộc chiến » thì quân đội VN được lệnh « không được nổ súng bất cứ giá nào ». Theo báo chí trong nước thì đó là « trận hải chiến mà súng nổ chỉ từ một phía ». Một tướng lãnh thuộc QDNDVN vừa mới lên tiếng xác định dữ kiện trên là có thật. Vị này còn cho biết lệnh trên là đến từ Lê Đức Anh.
Đây là một trường hợp đặc biệt về việc chiếm hữu lãnh thổ. Theo luật quốc tế, nếu TQ chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực (như trường hợp Hoàng Sa) thì chủ quyền (vùng lãnh thổ này) sẽ không được nhìn nhận.
Trường hợp các bãi, đá chiếm năm 1988, dĩ nhiên TQ đã sử dụng bạo lực. Vấn đề là phía VN đã không sử dụng quyền « tự vệ chính đáng » (được Hiến chương LHQ qui định) để chống trả lại. Nhà nước VN cũng từ chối mọi thủ tục pháp lý (có sẵn) để tranh đấu chống lại TQ ở thời điểm đó (mặc dầu nhà nước CHXHCNVN có đầy đủ tư cách pháp nhân để thực hiện). Các công hàm phản đối dĩ nhiên không có hiệu lực bảo vệ chủ quyền mạnh mẽ bằng các phương tiện pháp lý.
Sự im lặng đồng thuận của VN (về chủ quyền các bãi, đá) kéo dài từ năm 1990 cho đến nay.
Phải chăng, một cách ám thị, VN đã từ bỏ chủ quyền (tại các bãi, đá đó) cho TQ ?
Các công hàm bảo lưu của VN gởi LHQ, năm 1996, khi TQ thông qua Luật Biển UNCLOS không nói rõ rệt về chủ quyền các bãi, đá đã bị TQ chiếm năm 1988, mà chỉ phản đối về hệ thống đường cơ bản của TQ (đồng thời khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS).
Việc khẳng định chủ quyền một cách « chung chung » như vậy là không đủ. Quần đảo Trường Sa bao gồm một khu vực biển rất lớn, trên hai triệu cây số vuông, có đến hàng ngàn bãi, đá, bãi ngầm, bãi cạn, đá chìm, đá nổi, đảo, cụm đảo… khác nhau. Các cấu trúc địa lý này một số rải rác, số khác tụ lại thành nhóm. Nhà cầm quyền bảo hộ Pháp đã chỉ tuyên bố chủ quyền các cụm đảo Trường Sa, An Bang, Ba Binh (Itu-Aba), Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ chứ không bao gồm tất cả (bãi chìm, bãi nổi, đá chìm, đá nổi rải rác trên biển, cách nhau hàng trăm, hàng ngàn ki lô mét).
Dầu vậy, trên phương diện pháp luật quốc tế, các bãi, đá mà TQ chiếm của VN năm 1988, trên danh nghĩa đã thuộc chủ quyền của VN.
Đá Chữ Thập, trên danh nghĩa (địa lý) thì thuộc nhóm Tizard, bao gồm các đảo Ba Bình, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết… Pháp đã tuyên bố chủ quyền và sáp nhập cụm đảo này vào tỉnh Bà Rịa năm 1933.

Tương tự ở đá Châu Viên thuộc nhóm đảo Trường Sa, đá Xu bi thuộc nhóm Thị Tứ.
Hai đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (còn gọi là đá Huy Gơ) thuộc nhóm Sinh Tồn mà nhóm này không thuộc danh sách các đảo đã được sáp nhập năm 1933. Nhưng theo các tài liệu của VN, trước 1975 cụm đảo này do VNCH chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền.
Theo một phán lệ của quan tòa Max Huber về vụ kiện « quần đảo Palmas » trước Tòa Trọng tài năm 1928, chủ quyền một nhóm đảo tùy thuộc vào đảo chính. Ta có thể hiểu là, trong một nhóm đảo bất kỳ, bao gồm một đảo chính và các đảo phụ thuộc, quốc gia nào có chủ quyền ở đảo chính thì cũng sẽ có chủ quyền ở các đảo phụ thuộc chung quanh.
Nhà nước bảo hộ Pháp đã cẩn trọng tuyên bố chủ quyền không chỉ ở các đảo chính mà còn nhấn mạnh ở các đảo phụ thuộc.
Vì vậy hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá ghi trên là không đem lại chủ quyền cho nước này. Đơn giản vì đã chiếm một lãnh thổ đã có chủ.
Ngoại trừ hành vi từ bỏ chủ quyền của nhà nước CSVN.
Các hành vi có thể ghi nhận là công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và một số hành vi khác, bao gồm thái độ im lặng (đồng thuận ám thị) của nhà nước này trong một thời gian dài. Các « hành vi khác » quan trọng có thể nhắc là lãnh đạo đảng CSVN, ông Lê Khả Phiêu, nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ.
Điều này bảo kê sự hiện diện « chính đáng » của TQ tại vùng biển Trường Sa.
Ngoài VN, phía Phi Luật Tân cũng đã mở cơ hội cho TQ có mặt tại Trường Sa.
Năm 2005, chính phủ Phi đã ký kết song phương với với Trung Quốc thỏa thuận « thăm dò chung – JMSU » tại một vùng biển rộng lớn thuộc Trường Sa, trong đó một phần có chồng lấn với vùng biển và các hải đảo của VN. Vùng biển này bao gồm luôn Reed Bank (tức Bãi Cỏ Rong).
Tuyên bố của Lê Khả Phiêu và việc làm của Phi đã thừa nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại vùng biển liên hệ. Biến một vùng biển « không có tranh chấp » thành vùng biển « có tranh chấp ».
Hiện nay TQ ráo riết xây dựng các bãi, đá dã chiếm của VN.
Trên đá Chữ Thập (tên quốc tế là Fiery Cross Reef, tên TQ là Vĩnh thử tiều (Yongshu Reef). Theo thông tin tiết lộ từ báo chí của phía TQ (Kanwa Defense) dự tính của TQ là sẽ xây dựng tại đây thành một căn cứ quân sự hải quân và không quân, có chiều dài 5.000 mét, rộng 500 mét; phi đạo dài 2.000 mét để có thể tiếp nhận các loại chiến đấu cơ của TQ như SU 30, J 10, J 11…. Căn cứ này (và căn cứ trên đá Châu Viên), trên quan điểm quân sự, có thể ngăn chặn mọi tiếp tế của VN, đến từ bờ hay từ trung tâm Trường Sa, cho các đảo khu vực Trường Sa.
 TQ cũng xây dựng hai căn cứ quan trọng thuộc cụm đảo Sinh Tồn : Gạc Ma và Tư Nghĩa. Hiện nay, đảo chính của cụm đảo Sinh Tồn không phải là đảo Sinh Tồn mà là hai đảo nhân tạo của TQ. Đảo Sinh Tồn (hiện do VN chiếm đóng) đã trở thành đảo “phụ thuộc”.
Chiến thuật “tầm ăn dâu” của TQ, Mỹ gọi là “xắt lát sa la mi”, thực ra chỉ mới bắt đầu ráo riết từ sau khi giàn khoan 981, vào tháng 3 năm 2013. Mọi hành vi của TQ đều được biện hộ vì cái cớ trả đũa vụ Phi đi kiện. Theo họ, Phi đã vi phạm tuyên bố DOC 2002, theo đó phải giữ “nguyên trạng”, không làm rắc rối thêm tình hình. Trong khoảng thời gian chưa tới hai năm, TQ đã bồi đắp các bãi đá, bãi ngầm thành các đảo có tầm vóc quan trọng. Trường hợp tương tự ở các xứ Trung Đông, các đảo nhân tạo phải mất thời gian xây dựng khoảng 10 năm.
Đối diện với một TQ hung hăng, dầu sao thì Phi cũng được Mỹ chống lưng. Hai bên có quan hệ “đồng minh” truyền thống. Còn VN thì nan đề chỉ mới bắt đầu. Dầu vậy, phía VN xem ra vẫn còn rất lạc quan. Họ vẫn tự hào vì đã đánh thắng bốn đế quốc sừng sỏ Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Cộng. Vấn đề là học giả VN không chịu nhắc để lãnh đạo VN không bị « hào quang » chiến thắng làm mù mắt. Đó là, thắng đế quốc nào thì VN lúc đó cũng có liên minh với một cường quốc khác. Từ cây súng đến viên đạn đều do nước ngoài viện trợ. VN chỉ có xương và máu mà thôi.
2/ Cuộc chiến pháp lý :
Sẽ không có « cuộc chiến pháp lý » giữa Phi và TQ như nhiều học giả trong và ngoài nước đã nói. Vụ kiện của Phi về các hành vi và tuyên bố của TQ tại đá Hoàng Nham và một số bãi chìm, bãi cạn ở Trường Sa, đã được Tòa Trọng tài thụ lý nhận đơn, mà điều này sẽ không chắc giải quyết được điều gì.
Ngày 23 tháng giêng năm 2013, Bộ Ngoại giao Phi trao công hàm cho Bắc Kinh, đồng thời thông báo trước dư luận trong ngoài nước, việc Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Hồ sơ kiện của Phi gồm 4.000 trang tài liệu, được Tòa Trọng tài Thường trực (La Hague, Hòa Lan) thụ lý. Tháng 6-2014, Tòa thông báo cho Trung Quốc, nước này có 6 tháng để nộp bản phản biện, thời hạn chót là ngày 15-12-2014. Như đã biết, từ ngày 19 tháng 2 năm 2013, bộ Ngoại giao TQ đã tuyên bố từ chối tham gia vụ kiện, và dĩ nhiên, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa. Một bản Tuyên bố ngày 7-12-2014 đã được phía TQ công bố. Theo đó lập luận của TQ về các lý do không tham gia vụ kiện được trình bày khá rõ rệt.
Những lập luận đáng ghi nhận của TQ là : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).
Thái độ của TQ, không tham gia vụ kiện và không nhìn nhận thẩm quyền của tòa, không cản trở được quá trình thụ lý của Tòa Thường Trực. Nếu không có gì trở ngại, nội vụ sẽ xử vào tháng 7 năm 2015.
Phi yêu cầu Tòa tuyên bố, gồm 10 điều :
  1. Các quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).
  2. Yêu sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.
  3. Các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI UNCLOS.
  4. Các bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xu Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UNCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?
  5. Bãi Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.
  6. Bãi Hoàng Ngam và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.
  7. TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma.
  8. Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.
  9. TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
  10. TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS.
Các điểm, theo tôi, Tòa không có thẩm quyền để tuyên bố là :
Điểm 3 và điểm 4 : về tình trạng pháp lý các cấu tạo địa lý lúc chìm lúc nổi (mà TQ hiện chiếm đóng và xây dựng). Công ước Quốc tế về Biển 1982 không đề cập đến việc các cấu trúc địa lý này có thể chiếm hữu hay không ? Phán lệ (hay án lệ) của CIJ trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn. Tòa nói về việc này như sau:
“luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.
 Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán lệ của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008. Trường hợp tương tự, South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ thấy khi thủy triều thấp. Tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về tình trạng pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án Qatar và Bahreïn. Dầu vậy Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.
Nếu phán quyết của Tòa CIJ ở trên trở thành một “phán lệ”, được áp dụng trong trường hợp các cấu trúc địa lý tương tự ở Trường Sa, thì chủ quyền các cấu trúc (lúc chìm lúc nổi) sẽ phụ thuộc vào các đảo chính. Tức là nước nào có chủ quyền ở đảo chính thì các cấu trúc phụ thuộc cũng sẽ thuộc chủ quyền của quốc gia đó.
Ở điểm này Tòa sẽ không có thẩm quyền phán xét. Đơn giản vì nó liên quan đến vấn đề “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này nằm ngoài thẩm quyền của UNCLOS.
Điểm 5, đá McKennan thuộc nhóm đảo Sinh Tồn, phụ thuộc vào đảo Sinh Tồn. Trong khu vực đảo này TQ đã chiếm hai bãi (đá) Gạc Ma và Tư Nghĩa. Đá Vành Khăn sẽ phụ thuộc vào đá (nổi thường trực) hay đảo nào kế cận trong vòng 12 hải lý. Phía TQ tuyên bố có chủ quyền các đảo TS, theo Tuyên Bố đơn phương năm 1958 về hải phận 12 hải lý.
Ở điểm này Tòa cũng không có thẩm quyền, vì thuộc vấn đề “chủ quyền lãnh thổ”.
Điểm 6 nói về hiệu lực của “đảo” hay  “đá” theo điều 121 UCLOS. Ở đây tranh luận là về lý thuyết luật học nhưng rất dễ sa vào lãnh vực “phân chia ranh giới biển” mà điều này Tòa cũng không có thẩm quyền do bảo lưu của TQ năm 2006.
3/ Hệ quả của “cuộc chiến pháp lý”
Xác suất 40% Tòa tuyên bố không có thẩm quyền là tiên đoán có cơ sở. (Tỉ lệ trên các điểm 3,4,5 và 6).
Nhưng với bấy nhiêu đó phía TQ cũng đã thắng lớn vì các tuyên bố chủ quyền và hành vi hành sử quyền chủ quyền của họ được nhìn nhận và khẳng định.
Nếu Tòa tuyên bố có « thẩm quyền », (chấp thuận tất cả các yêu cầu của Phi), phán quyết của Tòa vẫn không có giá trị ràng buộc đối với TQ. Đơn giản vì phán quyết của Tòa (quốc tế) chỉ có hiệu lực ràng buộc khi hai bên (quốc gia) cùng nhìn nhận thẩm quyền của Tòa.
Dầu vậy, trong chừng mực, phía Phi có thể có được tư thế « chính danh », từ đó có thể vận dụng các biện pháp « phòng vệ chính đáng », đơn phương hay tập thể (bằng cách thiết lập liên minh quân sự với các quốc gia khác). Phi có thể bảo vệ được lợi ích của họ. Tệ lắm thì cũng là trên danh nghĩa. Trong trường hợp này phía TQ vẫn không thua vì các cấu tạo địa lý (mà TQ đã chiếm của VN từ tháng 3 năm 1988) đã được xây dựng thành các đảo nhân tạo kiên cố và vững chắc (so với các đảo và các cấu trúc của VN và Phi).
 TQ đã lợi dụng việc Phi đi kiện để tiến hành việc xây dựng các đảo nhân tại tại các cấu trúc địa lý tại Trường Sa. Vụ giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa VN vào tháng 5 năm ngoái thật ra chỉ là kế « giương đông kích tây » (mà điều này tôi đã cảnh báo). Việc TQ đưa tàu bè hút cát, nạo vét đại dương đến Trường Sa để thực hiện các công trình một cách rầm rộ như thế mà phía VN, cả năm sau, hoàn toàn không có một phản ứng nào. Biến cố giàn khoan 981 có thể đã che mắt mọi người, nhưng không thể che mắt nhà cầm quyền.
Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ sớm được thành lập (theo bản đồ dưới đây). Dĩ nhiên, tất cả các đảo, cấu trúc địa lý trong vùng biển (được bao che bởi vùng ADIZ) phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. TQ không thể lập vùng nhận diện phòng không nếu có một vùng lãnh thổ (nào đó) ở phía dưới còn thuộc về một nước khác.
Các cấu trúc Bãi Chữ Thập, Đá Gạc Ma và đá Tư Nghĩa uy hiếp cụm đảo Sinh Tồn. Khi công cuộc xây dựng hoàn tất, được quân sự hóa, TQ không cần nổ một tiếng súng cũng có thể chiếm hoàn toàn cụm đảo Sinh Tồn (chỉ cần phong tỏa vùng biển). Các đảo khác cũng sẽ lọt vào TQ, dễ dàng như một thủ tục.
 Việc xây dựng đảo nhân tạo không phải là điều mới mẻ. Từ các thế kỷ trước các nước Châu Âu đã xây dựng các cấu tạo địa lý trên biển để biến thành các công sự chiến đấu nhằm bảo vệ bờ biển và lãnh thổ.
 Đối diện với các hành vi của TQ, chỉ có VN là phía bị thiệt hại nhiều nhất. Nhưng cũng chỉ có VN mới có thể phá vỡ thế trận của TQ. Vì chỉ VN mới có danh nghĩa chủ quyền ở các đảo TS. Điều ngạc nhiên là đến nay vẫn không thấy động tĩnh gì đến từ nhà cầm quyền CSVN.
Trên bình diện quốc tế, sự “im lặng” thường trực và lâu dài của VN đã khiến VN đã mất đi danh nghĩa chủ quyền tại các cấu trúc địa lý mà TQ đang bồi đắp.
Có thể các nghi ngại về thủ tục “kế thừa” VNCH và “hòa giải” dân tộc cần thiết để lập hồ sơ pháp lý đã khiến lãnh đạo CSVN chùng bước.



Hình trên: Vùng ADIZ của TQ, giả định của tác giả.
4/ VN cần có thái độ nào ?
Nghe báo chí loan tải, VN đã gởi hồ sơ lên Tòa, trong vụ kiện của Phi, không phải để tham gia vụ kiện mà nhằm bảo vệ (bảo lưu) quyền lợi của VN trong khu vực. Điều này tôi cũng đã cảnh báo từ sau khi Phi tuyên bố đi kiện. Lý do các chủ thể mà Phi đề cập tới hầu hết đều thuộc chủ quyền của VN.
Sự việc TQ ráo riết xây dựng trên các cấu trúc địa lý (chiếm được của VN), bắt đầu khi vụ kiện tháng giêng năm 2013, trong vòng một thời gian ngắn, đã biến các cấu trúc địa lý này thành những đảo nhân tạo. Như vậy chủ ý của TQ là phải hoàn tất việc xây dựng trước ngày Tòa tuyên bố (dự tính tháng 7 năm 2015).
Bước kế tiếp (có thể là hai bước song song) là TQ sẽ tuyên bố vùng “nhận diện phòng không” đồng thời tuyên bố phong tỏa vùng biển chung quanh các đảo Trường Sa. Vấn đề “tự do hàng hải” sẽ không ảnh hưởng vì TQ không có mục đích làm gián đoạn việc này. Các đảo (có người sinh sống) sẽ phải kéo cờ đầu hàng trong một thời gian ngắn vì thiếu nước và lương thực.
Bằng mọi cách TQ sẽ chiếm các đảo trong khu vực ADIZ mà họ đã vạch ra. Vì nếu còn một đảo nào đó thuộc chủ quyền nước khác, vùng ADIZ này sẽ không hiệu lực.
Việc xây dựng các đảo của TQ chắc chắn đã làm VN “chới với” nhưng lãnh đạo (và phần lớn học giả) VN vẫn dường như chưa nhìn thấy viễn ảnh nan giải phía trước. Lãnh đạo CSVN vẫn yên bình tổ chức hội nghị “sắp xếp nhân sự”, khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các nước chỉ trích hành vi của TQ mạnh mẽ nhất là Phi, Nhật và Hoa Kỳ.
Giải pháp tốt nhất (để phá nước cờ thế của TQ) hiện nay của VN là liên minh với Mỹ và tức thời lập hồ sơ đi kiện TQ.
Vì tình thế mới phải có kế sách mới.
Vụ Phi đi kiện TQ không thuyết phục được Tòa. Bởi vì các đảo mà Phi hiện chiếm đóng phần lớn là trái phép. Chỉ có VN mới có tư cách (hơn Phi) để kiện TQ ở Trường Sa.
VN cần phải dứt khoát thay đổi sách lược, dân chủ hóa chế độ để phát triển, giữ nước và tồn tại.
Về pháp lý là một chuyện, nhưng về địa chiến lược là chuyện khác.
Trên quan điểm địa chiến lược, TQ chỉ có thể trở thành “đại quốc” khi các nước chung quanh “yếu”.
Phần lớn các nước ngăn chặn TQ về mặt biển đều là các nước giàu. Mục đích của TQ là làm thế nào cho các nước này ít nhiều lệ thuộc vào TQ. Đã từ lâu TQ là động cơ cho phát triển của cả khu vực (và thế giới). GDP của TQ lên hàng thứ nhì và ngân sách quốc phòng cũng hàng thứ nhì trên thế giới (150 tỉ đô là số công bố. Số thật sự có thể lên gấp đôi).
TQ đã là một “nước lớn”. Các nước “giàu” trong khối ASEAN, hay Đại Hàn, Nhật đã “tương thuộc” một cách sâu sắc về kinh tế với TQ.
VN là một ngoại lệ. Nước này từ đầu thập niên 90 đã ngoan ngoãn nằm trong “quĩ đạo” của TQ. VN tuyên bố là không “liên minh” với nước nào. Điều này rất hợp ý Bắc Kinh. Dĩ nhiên TQ sẽ liên tục “giúp” mọi thứ để giúp cho VN giữ « nguyên trạng ». VN luôn là một nước “yếu” và nghèo đói kinh niên.
Một cái nhìn (địa chiến lược) khác, Mỹ lại không muốn thấy một “đại cường” TQ, đối trọng với Mỹ trong khu vực. Mỹ không thể tái dựng lại “chiến tranh lạnh” nhằm cô lập TQ mà chỉ có thể thiết lập một hàng rào các nước đồng minh để bao vây TQ. Các nước nằm trong “hàng rào” của Mỹ đều là các nước giàu (hay tương đối giàu hơn VN) và mạnh.
VN có vị trí rất “đắc địa”, vì là thanh kiếm dưới yết hầu của TQ. Dĩ nhiên được Mỹ coi trọng.
VN có hai lựa chọn:
Một là không liên minh với ai hết (theo như ý nguyện của Bắc Kinh) như hiện nay. Kết quả là nghèo đói kinh niên, (lãnh thổ mất lần hồi) vì đó là mục đích chiến lược của TQ.
Hai là “liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh (ít ra như Đại Hàn). Vì một VN nghèo đói sẽ không ngăn cản được TQ mà còn là một gánh nặng cho Mỹ.

Lựa chọn nào có lợi cho VN ?

Chỉ có liên minh với Mỹ VN mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của quốc gia mình. Nước này, với một lực lượng luật gia hùng hậu, cũng là nước duy nhất có thể giúp VN trên mặt trận pháp lý.

Thứ Sáu, 13 tháng 2, 2015

Giới hạn của sự báng bổ – Kỳ 3: Xúc phạm vô trách nhiệm xã hội và xúc phạm mang mục đích chính đáng

Nam Quỳnh – Năm 1984, Tòa sơ thẩm Paris ban hành lệnh cấm các áp phích quảng cáo phim ‘Ave Maria’ của đạo diễn Jacques Richard. Áp phích này có hình một cô gái trẻ cởi trần quấn khăn quanh hạ bộ đứng giang tay, tay chân cô bị trói vào các nhánh cây thánh giá phía sau lưng.
Các thẩm phán dân luật Pháp khi phán xét các cáo buộc dân sự về xúc phạm mang tính tôn giáo bắt đầu bằng việc tập trung phân tích đánh giá xem nội dung trung tâm và chủ thể của phát ngôn hay biểu hiện có thực sự là xúc phạm mang tính tôn giáo hay không. Khi đã xác định là có sự xúc phạm mang tính tôn giáo rồi thì phải xét đến biện pháp xử lý hợp lý và phù hợp với pháp luật.
Việc này chỉ có thể được làm dựa trên đánh giá mức độ và bản chất của hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo để có thể quyết định hình thức và giới hạn mà tòa án có thể áp đặt lên hành vi, phát ngôn hay biểu hiện xúc phạm đó, cùng những hình phạt và khoản bồi thường kèm theo áp dụng cho bên bị khởi kiện.
Lưu ý: Bài viết có hình ảnh gây tranh cãi về tôn giáo, đề nghị bạn đọc cân nhắc trước khi đọc bài.
Một cảnh trong bộ phim gây tranh cãi ở Pháp
Nam diễn viên Willem Dafoe trong một cảnh trong bộ phim gây tranh cãi ở Pháp năm 1988, “Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus”. Ảnh: cinechronicle.com
Bài viết này nằm trong loạt bài “Giới hạn của sự báng bổ” do luật sư Nam Quỳnh (Anh Quốc) gửi tới Luật Khoa tạp chí. 
Việc đánh giá mức độ và bản chất của hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo có thể được xem là trọng tâm trong hệ thống luật giới hạn quyền tự do ngôn luận và biểu đạt của dân luật Pháp. Công việc này phân chia bản chất và mức độ giữa:
- các hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm vô trách nhiệm xã hội:
và
- các hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm nhưng với mục đích chính đáng.
Các hành vi của nhóm đầu tiên sẽ phải được giới hạn và chịu sự cấm đoán, trừng phạt tối đa của pháp luật. Nhóm thứ hai sẽ chịu sự giới hạn và cấm đoán ít hơn, hoặc không phải bị giới hạn hay cấm đoán.
Việc đánh giá tiêu chuẩn này buộc các thẩm phán phải tìm hiểu không chỉ nội dung và diễn giải của nội dung, mà còn cả hoàn cảnh và mục đích của hành vi, phát ngôn, biểu hiện đang bị tranh cãi.
Năm 1984, Tòa sơ thẩm Paris ban hành lệnh cấm các áp phích quảng cáo phim ‘Ave Maria’ của đạo diễn Jacques Richard. Áp phích này có hình một cô gái trẻ cởi trần quấn khăn quanh hạ bộ đứng giang tay, tay chân cô bị trói vào các nhánh cây thánh giá phía sau lưng.
Áp phích quảng cáo phim Ave Maria. Ảnh: Wikimedia
Áp phích quảng cáo phim Ave Maria. Ảnh: Wikimedia
Khác biệt lớn nhất giữa áp phích này với áp phích phim‘Quần Chúng chống lại Larry Flynt’ nói trên đó là cây thập giá biểu tượng của đạo Thiên Chúa được sử dụng trực tiếp. Sự liên tưởng tới hình ảnh chúa Jesus bị đóng đinh thập giá gần tới mức hiển nhiên chứ không chỉ ở mức gợi ý như áp phích phim Larry Flynt.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris phân tích là việc cho một áp phích với biểu hiện có tính xúc phạm tôn giáo hiển nhiên như thế được trưng bày nơi công cộng khiến cho những người đi ngoài đường ai ai cũng phải nhìn thấy, cấu thành một hành vi xúc phạm mang tính tôn giáo ngoài mong muốn và về bản chất là vô trách nhiệm xã hội: chỉ đơn thuần là một thứ bị đem ra dí vào mặt công chúng, gây phản cảm với công chúng, đặc biệt xúc phạm những tín đồ Thiên Chúa giáo, chứ không đóng góp gì cho công luận.
Một năm sau, phim ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc’ (Je vous salue Marie) của đạo diễn Jean-Luc Godard bị ba tổ chức Thiên Chúa giáo lớn hợp đồng tác chiến kiện ra tòa đòi cấm chiếu. Nguyên do là vì nội dung phim kể lại câu chuyện ra đời của Jesus trong bối cảnh hiện đại: Thánh Joseph (cha của Chúa Jesus) là một anh tài xế taxi, Đức Mẹ Maria (mẹ của Chúa Jesus) là một nhân viên trạm xăng thích chơi bóng rổ. Đặc biệt, phim có tình tiết Đức Mẹ Maria “khám phá tính dục bản thân” trong nỗ lực tìm kiếm sự hợp nhất tâm hồn và thể xác.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris quyết định không cấm chiếu phim này vì họ cho là bản chất việc sản xuất và trình chiếu bộ phim không phải là một hành động xúc phạm vô trách nhiệm xã hội, vì bộ phim không được chiếu cho công chúng xem mà được trình chiếu trong rạp – khán giả xem phim được giới hạn vào những người sẵn sàng bỏ tiền mua vé và đến rạp xem phim.
Thẩm phán tòa sơ thẩm Paris cho là bản thân những người sẵn sàng bỏ tiền mua vé cũng sẵn sàng chấp nhận nội dung những gì họ xem với tất cả những rủi ro kèm theo bao gồm việc nội dung đó có thể gây phản cảm, xúc phạm đức tin của họ. Bản chất việc trình chiếu phim này vì thế khác với việc trưng bày một sản phẩm có mức độ xúc phạm mang tính tôn giáo cao tại nơi công cộng, ở một vị trí khiến nó đập vào mắt cả những ai không hề mong muốn nhìn thấy nó. Những người chọn mua vé đi xem phim phải được quyền tự do chấp nhận rủi ro và tự do tận hưởng sản phẩm văn hóa mà họ đã chọn lựa.
Tòa phúc thẩm đồng ý với Tòa sơ thẩm Paris: nội dung bộ phim mang tính xúc phạm tôn giáo, nhưng hình thức phát tán ra xã hội giới hạn của nó đảm bảo là nó sẽ chỉ ảnh hưởng đến những ai chủ động tìm đến nó. Vì thế, một lệnh cấm chiếu hoàn toàn sẽ áp đặt một giới hạn quá lớn và không tương xứng lên quyền tự do biểu đạt.
Tòa thượng thẩm cũng đồng ý với nhận định của tòa phúc thẩm và vì thế bộ phim tiếp tục được công chiếu tại các rạp chiếu phim.
Năm 1988, bộ phim ‘Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus’ (‘La Dernière Tentation du Christ’ hay ‘The Last Temptation of the Christ’) của đạo diễn Martin Scorsese cũng gặp phải những thách thức pháp lý giống như trên vì phim này có cảnh làm tình giữa hai nhân vật Maria Magdalena và Chúa Jesus. Hình tượng Chúa Jesus được thể hiện trong phim này bị các tín đồ và tổ chức Thiên Chúa giáo xem là quá ‘con người’, quá yếu đuối trước những cám dỗ nhục cảm và trần thế.
Một cảnh trong phim "Cám dỗ cuối cùng của Jesus". Ảnh: listal.com
Một cảnh trong phim “Cám dỗ cuối cùng của Jesus”. Ảnh: listal.com
Các rạp chiếu phim này bị biểu tình, thậm chí đốt phá bởi các tín đồ Thiên Chúa giáo. Nhiều hội đoàn Thiên Chúa giáo có chung ý kiến là việc các nhà làm phim này tái hiện hình ảnh chúa Jesus là hành vi xúc phạm họ dựa trên tôn giáo của họ.
Với cùng những lý do được ba cấp tòa dân sự Pháp đưa ra trong vụ Je vous salue Marie, thẩm phán Tòa sơ thẩm quyết định không cấm chiếu phim ‘Cám dỗ cuối cùng của Chúa Jesus’. Thẩm phán tòa sơ thẩm chỉ bắt các nhà sản xuất phim phải thông báo trước cho công chúng về những cáo buộc xúc phạm mang tính tôn giáo mà bộ phim gánh chịu.
Tòa phúc thẩm công nhận tính xác đáng của quyết định sơ thẩm này. Việc bắt các nhà làm phim trong vụ việc này thông tin cho công chúng về những cáo buộc xúc phạm mang tính tôn giáo là một chế tài cần thiết để bảo vệ công chúng, đặc biệt những người có đức tin Thiên Chúa. Khi đã được thông tin đầy đủ, chỉ những ai biết rõ về rủi ro nội dung phim có thể ảnh hưởng đến họ như thế nào mới có thể quyết định một cách đúng đắn nhất về việc có đến rạp xem phim hay không. Thẩm phán tòa phúc thẩm áp đặt thêm yêu cầu bắt các nhà làm phim phải có lời cảnh báo về nội dung phim trên áp phích và trong phần mở đầu phim để đảm bảo thông tin cho công chúng một cách tốt nhất.
Năm 2005, một nội dung quảng cáo nữa lại là đề tài gây tranh cãi tại Pháp : Hãng thời trang Girbaud cho trưng một tấm pa-nô quảng cáo lớn có hình một dàn nữ người mẫu ngồi quây quần trên một một bàn, theo đúng hình mẫu bức tranh Tiệc Ly nổi tiếng của Leonardo Da Vinci vẽ lại bữa ăn tối cuối cùng trước khi bị bắt của chúa Jesus và 12 tông đồ. Bố cục, tư thế dáng ngồi của các người mẫu trong tấm hình quảng cáo của Girbaud mô phỏng theo đúng các nhân vật trong bức tranh của Da Vinci.
Bức pa-nô của hãng thời trang Girbaud. Ảnh: http://theinspirationroom.com/
Bức pa-nô của hãng thời trang Girbaud. Ảnh: theinspirationroom.com
Ngay lập tức tấm pa-nô bị các tín đồ Thiên Chúa giáo phàn nàn.
Hai cấp tòa đầu tiên của Pháp đều đồng ý là nội dung tấm hình có tính xúc phạm người theo đạo Thiên chúa bằng cách giễu nhại hình ảnh bữa ăn cuối cùng của chúa Jesus vốn được xem là thiêng liêng trong truyền thống đạo Thiên Chúa. Hai cấp tòa này chú trọng vào các yếu tố đó là tính thương mại của nội dung tấm hình (chỉ để bán quần áo, không góp ích gì cho công luận về các vấn đề xã hội), vàhình thức, cung cách nội dung tấm hình được đưa đến quần chúng: được trưng nơi công cộng ai ai cũng được hay bị buộc phải nhìn thấy. Hai cấp tòa này cho là việc cho trưng tấm pa nô quảng cáo như thế là một hành vi biểu hiện mang tính xúc phạm vô trách nhiệm xã hội.
Tháng 11 năm 2006, Tòa thượng thẩm Pháp bác quyết định của hai cấp tòa dưới. Xem xét nội dung mang tính giễu nhại của tấm hình dùng trong bức pa-nô nói trên, Tòa thượng thẩm cho là những người làm quảng cáo ở đây không hề cố ý muốn nhục mạ trực tiếp cá nhân những người theo Thiên chúa giáo, họ chỉ muốn biểu diễn lại một cách hài hước một hình ảnh nổi tiếng trong đạo Thiên Chúa. Vì không thể chứng minh được mục đích của những người làm tấm hình là trực tiếp muốn nhục mạ cá nhân những tín đồ Thiên Chúa giáo, không thể áp đặt tội này cho họ.
Nguyên tắc xác định mức độ vô trách nhiệm xã hội của hành vi, ngôn luận, biểu hiện mang tính xúc phạm tôn giáo dựa trên hình thức, cung cách tiếp cận công chúng để tìm biện pháp kiểm soát và chế tài tương ứng của các tòa dân sự Pháp thể hiện một sự uyển chuyển và tôn trọng thực tiễn cần thiết để có thể giới hạn quyền tự do ngôn luận và tự do biểu đạt một cách hợp lý mà không quá đáng hay cứng nhắc.
Nguyên tắc này tạo điều kiện cho việc phát hành những sản phẩm văn hóa khác ngoài phim ảnh hay áp phích quảng cáo có nội dung làm các tín đồ tôn giáo bất mãn, ví dụ đặc biệt là sách.
nguồn: http://luatkhoa.org/2015/02/gioi-han-cua-su-bang-bo-ky-3-xuc-pham-vo-trach-nhiem-xa-hoi-va-xuc-pham-mang-muc-dich-chinh-dang/