Giới thiệu
Bạn có hiểu hệ thống Đại Cử Tri Đoàn (Electoral College) của Hoa Kỳ là gì không? Hay cách nó hoạt động như thế nào? Hoặc tại sao Hoa Kỳ lại dùng nó để bầu Tổng Thống thay vì dùng số phiếu chiếm đa số? Nhà văn, luật sư và một chuyên gia về hệ thống Đại Cử Tri Đoàn Tara Ross rất am hiểu nó, và cô ấy giải thích rằng việc hiểu được hệ thống Đại Cử Tri Đoàn cũng là việc am hiểu về hệ thống dân chủ của Hoa Kỳ.
----------
Đại Cử Tri Đoàn là gì?
Tôi muốn nói với bạn về hệ thống Đại Cử Tri Đoàn và tại sao nó lại quan trọng. Được rồi, tôi biết đây không phải là một trong những chủ đề hấp dẫn nhất, nhưng, hãy nghe tôi bởi vì, tôi cam kết với bạn, nó sẽ là một trong những chủ đề quan trọng nhất.
Để giải thích vì sao Hoa Kỳ lại sử dụng hệ thống này yêu cầu chúng ta phải xem xét lại bài học công dân.
Tổng Thống và Phó Tổng Thống của Hoa Kỳ không được bầu chọn qua một cuộc bầu cử phổ thông (đại đa số thắng) toàn quốc của người dân Hoa Kỳ, thay vào đó, họ được bầu bởi 538 Đại Cử Tri. Quá trình này được viết rõ trong Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Vậy thì tại sao các Nhà Sáng Lập Hoa Kỳ lại không làm quá trình bầu cử dễ dàng và để cho ứng cử viên Tổng Thống với số phiếu bình chọn nhiều nhất chiến thắng? Tại sao họ lại tạo ra, và tại sao chúng ta lại tiếp tục cần, hệ thống bầu cử qua Đại Cử Tri Đoàn?
Câu trả lời rất quan trọng để hiểu không chỉ về Đại Cử Tri Đoàn, mà còn cả Hoa Kỳ.
---------
Dân chủ là sự độc tài của số đông
Các Nhà Sáng Lập hoàn toàn không có một ý định để tạo ra một nền dân chủ của đa số. Họ đã biết từ việc nghiên cứu lịch sử một bài học đại đa số chúng ta ngày hôm nay chưa bao giờ học, các nền dân chủ thật sự không hoạt động và tồn tại lâu dài được. Họ tan rã.
Nền dân chủ được diễn tả như hai con soi và một con cừu bầu chọn ai sẽ là buổi ăn tối. Trong một nền dân chủ thuần túy, số đông có thể độc tài hóa các thành phần còn lại của một đất nước. Các Nhà Sáng Lập đã muốn điều tương tự không xảy ra ở Hoa Kỳ.
Đó là tại sao chúng ta có ba nhánh của chính phủ - Hành Pháp, Quốc Hội và Tòa Án. Đó là tại sao mỗi tiểu bang có hai Thượng Nghị Sĩ cho dù dân số của họ là gì và số lượng đại biểu quốc hội khác nhau dựa trên dân số của mỗi tiểu bang. Đó là tại sao việc thay đổi Hiến Pháp yêu cầu sự ủng hộ của ba phần tư số tiểu bang ở Hoa Kỳ.
Và, đó là lý do vì sao chúng ta có hệ thống Đại Cử Tri Đoàn.
----------
Hệ thống Đại Cử Tri Đoàn hoạt động như sau
Cuộc bầu cử Tổng Thống được diễn ra trong hai giai đoạn. Giai đoạn một là hoàn toàn dân chủ. Chúng ta tổ chức 51 cuộc bầu cử trong những năm bầu cử Tổng Thống: một cuộc ở mỗi tiểu bang và một cuộc ở thủ đô Washington D.C.
Vào ngày bầu cử năm 2012, bạn có thể nghĩ rằng bạn đã bầu cho Barack Obama hoặc Mitt Romney, nhưng sự thật là bạn đã bầu cho một danh sách Đại Cử Tri Tổng Thống. Ở bang Rhode Island, để ví dụ, nếu bạn đã bầu cho Barack Obama, bạn đã bầu cho bốn Đại Cử Tri Dân Chủ của tiểu bang đó. Nếu bạn đã bầu cho Mitt Romney bạn đã bầu cho Đại Cử Tri Cộng Hòa của tiểu bang đó.
Giai đoạn hai của cuộc bầu cử Tổng Thống được tổ chức vào tháng 12. Và chính cuộc bầu cử tháng 12 này trong số 538 Đại Cử Tri Đoàn, chứ không phải cuộc bầu cử vào tháng 11, mới chính là cuộc bầu cử chọn chính thức ai là người sẽ trở thành Tổng Thống tiếp theo. Người chiến thắng cần phải có ít nhất 270 Đại Cử Tri trong số 538.
----------
Vì sao lại như vậy?
Tại sao đây lại là một điều quan trọng?
Bởi vì hệ thống này khuyến khích sự kết hợp liên minh và vận động trên toàn quốc. Để chiến thắng, một ứng cử viên phải có được sự ủng hộ từ nhiều thành phần, từ nhiều vùng khác nhau trên cả nước. Chỉ chiến thắng ở miền Nam hoặc Trung-Tây thôi thì chưa đủ. Bạn không thể lấy được 270 Đại Cử Tri nếu chỉ một vùng của cả nước ủng hộ bạn.
Nhưng nếu chiến thắng chỉ là việc lấy nhiều số phiếu bầu nhất, một ứng cử viên chỉ cần tập trung tất cả công sức của mình ở các thành phố lớn nhất hoặc các tiểu bang lớn nhất. Vậy thì tại sao ứng cử viên đó lại phải quan tâm đến những người dân ở bang West Virginia, Iowa hay là Montana suy nghĩ gì?
Nhưng, bạn có thể sẽ hỏi, "vậy cuộc bầu cử chỉ thật sự quyết định ở những tiểu bang tranh chấp ngang ngửa thôi đúng không?"
Thật ra là không. Nếu không có gì thay đổi, những tiểu bang tranh chấp luôn luôn thay đổi. Bang California đã bầu cho Đảng Cộng Hòa vào năm 1988. Bang Texas đã từng là bang thiên Đảng Dân Chủ. Kể cả bang New Hampshire hay Virginia đều không từng là bang tranh chấp.
Đa số người nghĩ rằng George W. Bush đã thắng ở cuộc tranh cử năm 2000 bởi vì ông ta đã thắng ở bang Florida. Đúng, cũng có thể cho là vậy. Nhưng thật ra ông ta đã thắng cuộc tranh cử ấy bởi vì ông ta đã giành được Đại Cử Tri của bang West Virginia, một bang thiên về Đảng Dân Chủ. Bốn Đại Cử Tri đã quyết định cuộc tranh cử đó.
Không có một đảng chính trị nào có thể làm ngơ bất cứ một tiểu bang nào quá lâu mà không chịu những hậu quả. Tất cả các tiểu bang và tất cả những người đi bầu ở mọi tiểu bang đều quan trọng.
----------
Ngăn ngừa gian lận
Hệ thống Đại Cử Tri Đoàn cũng làm cho việc gian lận bầu cử trở nên khó khăn. Các phiếu bầu gian lận đó phải được gian lận ở những tiểu bang cần thiết mới có thể thay đổi được kết quả của Đại Cử Tri Đoàn. Vì có quá nhiều tiểu bang với kết quả bầu cử bất ngờ, tranh chấp, nên việc dự đoán tiểu bang nào cần thiết để gian lận là một điều vô cùng khó khăn.
Nhưng nếu không có Đại Cử Tri Đoàn, bất cứ một phiếu bầu nào bị ăn cắp ở trong bất cứ khu vực nào trong nước đều có thể ảnh hưởng kết kết quả cuộc bầu cử -- cho dù nếu phiếu bầu đó bị ăn cắp ở tiểu bang thiên Đảng Dân Chủ như California hay ở một vùng thiên Đảng Cộng Hòa như của bang Texas.
----------
Sự khác biệt của Hoa Kỳ
Hệ thống Đại Cử Tri Đoàn là một phương pháp thông minh để lựa chọn một Tổng Thống cho một nền cộng hòa đa dạng và vĩ đại như Hoa Kỳ. Nó bảo vệ đất nước từ sự độc tài của số đông, nó khuyến khích sự liên minh và ngăn chặn gian lận trong bầu cử. Các Nhà Sáng Lập của chúng ta rất tự hào về điều này. Chúng ta cũng nên như vậy.
Hoa Kỳ không phải là một nước dân chủ, vì số đông không hoàn toàn chiến thắng. Đó là sự khác biệt giữa Hoa Kỳ và các quốc gia khác trên thế giới.
Tôi là Tara Ross cho Prager University.
-----------
nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=753986554734861
Tác giả: Tara Ross, Do you understand the electoral college?, Prager University
Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com
Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2016
[Giáo dục không đồng nghĩa với đến trường]
Link youtube: https://www.youtube.com/watch?v=T2es_BAo5RE&
Suy ngẫm
Giáo dục không đồng nghĩa với đến trường. Hãy nghĩ lại về khoảng thời gian bạn đã học ở trường. Có bao giờ bạn cảm thấy nó như 1 trại giam không? Có bao giờ bạn cảm thấy bạn chỉ là một cái máy được lập trình với 1 mục đích và tác dụng riêng và những nhứ đó không liên quan gì đến việc bạn muốn làm gì hoặc muốn đạt được gì?
Nếu có thì bạn không nên bất ngờ, bởi vì điều này phản ánh thực trạng của hệ thống trường lớp hiện đại.
----------
Mô hình trường học hiện đại
Hệ thống trường học hiện đại được sáng lập bởi người Prussian (Đế Chế Prussia, bây giờ là nước Đức) sau năm 1806. Trước đó, giáo dục được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau (nhà thờ, lớp người địa phương tự quản lý, giáo dục tại nhà).
Mô hình trường lớp này được thành lập trong bối cảnh thời đế chế và nó được thành lập với 1 mục đích riêng. Để sản xuất ra những người dân, người công nhân và những người lính trung thành và biết nghe lời.
Đây là nguyên nhân vì sao trường học hiện tại lại như vậy. Nó giải thích vì sao 1 ngày ở trường được chia ra làm nhiều lớp với số thời gian cố định. Nó giải thích vì sao hệ thống tổ chức của các trường học lại có cấp bậc và cố định.
Nó giải thích vì sao học sinh được học với những người cùng lứa tuổi thay vì với những người cùng sở thích hoặc khả năng trí tuệ. Và nó giải thích vì sao các hệ thống trường học lại phân chia học sinh vào những đường lối khác nhau cũng như những đường đời và công việc khác nhau. Đến khi giáo dục thật sự xảy ra ở trường học, thì đó chỉ là một điều ngẫu nhiên hoặc vô tình.
Có rất nhiều người đang làm việc ở các trường học nghĩ rằng giáo dục là mục đích chính và họ rất nỗ lực trong việc giáo dục những người (học sinh) họ đang quản lý. Nhưng, cái vấn đề với hệ thống giáo dục đó, với cái mô hình và phương pháp thành lập – là một điều làm cản trở mục đích và những nỗ lực của họ. Nên những người đang làm trong hệ thống giáo dục đang bị giới hạn và bất cứ thành công nào chỉ là thiểu số.
----------
Ngộ nhận về giáo dục
Điều chúng ta cần phải nhận ra về giáo dục và trường học là 2 thứ đó không đồng nghĩa với nhau. Thậm chí, bởi vì chúng ta nghĩ rằng học ở trường là đồng nghĩa với giáo dục, chúng ta đã bị hạn chế khi nghĩ đến giáo dục là gì và việc giáo dục có thể trở thành cái gì.
Tại sao, để ví dụ, chúng ta lại cho rằng giáo dục chỉ nên được thực hiện ở một giai đoạn nào đó trong đời? Giáo dục là một thứ có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, và nên như vậy. Tại sao chúng ta lại cho rằng chúng ta phải giáo dục những con người cùng độ tuổi chung với nhau?
Đây là một cách thực hiện điên rồ. Tại sao chúng ta phải thực hiện giáo dục trong một mô hình cố định và quan trọng hình thức? Giáo dục là một thứ quan trọng đến cuộc đời của con người.
Điều chúng ta cần phải làm là tách ra khỏi các suy nghĩ rằng trường học là cách duy nhất để chúng ta được giáo dục.
-----------
Theo: Steve Davies, Education is not the same as schooling, Learn Liberty
nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=755116787955171
Ku Búa @ cafekubua.com
Suy ngẫm
Giáo dục không đồng nghĩa với đến trường. Hãy nghĩ lại về khoảng thời gian bạn đã học ở trường. Có bao giờ bạn cảm thấy nó như 1 trại giam không? Có bao giờ bạn cảm thấy bạn chỉ là một cái máy được lập trình với 1 mục đích và tác dụng riêng và những nhứ đó không liên quan gì đến việc bạn muốn làm gì hoặc muốn đạt được gì?
Nếu có thì bạn không nên bất ngờ, bởi vì điều này phản ánh thực trạng của hệ thống trường lớp hiện đại.
----------
Mô hình trường học hiện đại
Hệ thống trường học hiện đại được sáng lập bởi người Prussian (Đế Chế Prussia, bây giờ là nước Đức) sau năm 1806. Trước đó, giáo dục được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau (nhà thờ, lớp người địa phương tự quản lý, giáo dục tại nhà).
Mô hình trường lớp này được thành lập trong bối cảnh thời đế chế và nó được thành lập với 1 mục đích riêng. Để sản xuất ra những người dân, người công nhân và những người lính trung thành và biết nghe lời.
Đây là nguyên nhân vì sao trường học hiện tại lại như vậy. Nó giải thích vì sao 1 ngày ở trường được chia ra làm nhiều lớp với số thời gian cố định. Nó giải thích vì sao hệ thống tổ chức của các trường học lại có cấp bậc và cố định.
Nó giải thích vì sao học sinh được học với những người cùng lứa tuổi thay vì với những người cùng sở thích hoặc khả năng trí tuệ. Và nó giải thích vì sao các hệ thống trường học lại phân chia học sinh vào những đường lối khác nhau cũng như những đường đời và công việc khác nhau. Đến khi giáo dục thật sự xảy ra ở trường học, thì đó chỉ là một điều ngẫu nhiên hoặc vô tình.
Có rất nhiều người đang làm việc ở các trường học nghĩ rằng giáo dục là mục đích chính và họ rất nỗ lực trong việc giáo dục những người (học sinh) họ đang quản lý. Nhưng, cái vấn đề với hệ thống giáo dục đó, với cái mô hình và phương pháp thành lập – là một điều làm cản trở mục đích và những nỗ lực của họ. Nên những người đang làm trong hệ thống giáo dục đang bị giới hạn và bất cứ thành công nào chỉ là thiểu số.
----------
Ngộ nhận về giáo dục
Điều chúng ta cần phải nhận ra về giáo dục và trường học là 2 thứ đó không đồng nghĩa với nhau. Thậm chí, bởi vì chúng ta nghĩ rằng học ở trường là đồng nghĩa với giáo dục, chúng ta đã bị hạn chế khi nghĩ đến giáo dục là gì và việc giáo dục có thể trở thành cái gì.
Tại sao, để ví dụ, chúng ta lại cho rằng giáo dục chỉ nên được thực hiện ở một giai đoạn nào đó trong đời? Giáo dục là một thứ có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, và nên như vậy. Tại sao chúng ta lại cho rằng chúng ta phải giáo dục những con người cùng độ tuổi chung với nhau?
Đây là một cách thực hiện điên rồ. Tại sao chúng ta phải thực hiện giáo dục trong một mô hình cố định và quan trọng hình thức? Giáo dục là một thứ quan trọng đến cuộc đời của con người.
Điều chúng ta cần phải làm là tách ra khỏi các suy nghĩ rằng trường học là cách duy nhất để chúng ta được giáo dục.
-----------
Theo: Steve Davies, Education is not the same as schooling, Learn Liberty
nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=755116787955171
Ku Búa @ cafekubua.com
[Chính phủ có tạo ra việc làm không?]
Chuyện cái xẻng và máy đào
Khi Milton Friedman (nhà kinh tế học người Mỹ, Giải Nobel Kinh Tế 1976) đến Trung Quốc tham quan. Đoàn đại biểu Trung Quốc đưa ông ta đến xem một công trình xây dựng họ đang thực hiện. Ông Milton Friedman đã hỏi:
- "Cho tôi hỏi anh – tại sao anh lại dùng người để đào con kênh này bằng xẻng? Sao không dùng xe ủi đất hay máy đào?"
Một thành viên trong đoàn đại biểu Trung Quốc trả lời:
- "Vâng, nhưng nếu chúng tôi dùng máy móc thì chúng tôi không thể tạo nhiều công ăn việc làm được. "
Ông Milton Friedman liền đáp lại:
- "Vậy sao, thì ra đây là một chương trình tạo công ăn việc làm. Tôi tưởng anh muốn xây dựng một con kênh. Nếu anh muốn tạo nhiều việc làm, đừng dùng xẻng mà hãy dùng muỗng để đào."
----------
Việc làm không đồng nghĩa với của cải
Tạo ra công ăn việc làm được nhiều người nhắc đến, nhất là các chính trị gia. Nhưng tạo ra việc làm thì rất dễ, cái khó là tạo ra của cải. Vì 2 thứ này không đồng nghĩa với nhau. Để ví dụ, chúng ta có thể tiêu hủy hết máy móc sản xuất nông nghiệp, điều đó sẽ tạo ra hàng triệu việc làm lao động tay chân ngay lập tức. Nhưng tôi tin rằng không một ai trong chúng ta lại cho rằng đó là một giải pháp chính đáng. Vấn đề ở đây là sự phát triển kinh tế không phải đến khi chúng ta tạo ra việc làm - điều đó rất dễ - mà khi chúng ta bỏ bớt những công việc chúng ta không cần nữa.
----------
Nước Mỹ - từ kinh tế nông nghiệp đến kinh tế chất xám
Một trăm năm về trước, hơn 40% người dân ở Mỹ làm trong hoặc những việc liên quan đến ngành nông nghiệp. Ngày hôm nay thì con số đó chỉ dưới 2%, nhưng số lượng sản phẩm nông nghiệp thì đã bùng nổ nhờ vào sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ trong việc hỗ trợ sản xuất.
Điều gì đã xảy ra đến những việc làm cũ trong ngành nông nghiệp? Khi máy móc đã làm giá cả của các sản phẩm nông nghiệp rẻ hơn, con người phải dùng ít tiền của mình hơn để mua đồ ăn và được dùng tiền của mình vào những thứ khác. Sự phát triển của con người chính là việc chúng ta hủy bỏ những công việc tận dụng tài nguyên khan hiếm nhất – lao động – để sản xuất ra những thứ chúng ta muốn và cần.
Dĩ nhiên những phát minh và đổi mới không xảy ra ngay lập tức, mà dần dần qua thời gian. Và những sự đổi mới của công nghệ đó đồng nghĩa với việc con người phải học những kỹ năng và kiến thức mới, và vài hoặc nhiều người sẽ không tìm được việc làm trong một thời gian. Và trong khi thất nghiệp là một điều tồi tệ, sự lựa chọn khác còn thê thảm hơn. Sự di chuyển của lao động là cái giá chúng ta phải trả để đổi lấy sự phát triển kinh tế. Nên ngăn ngừa nó sẽ dẫn đến việc ngưng phát triển, sáng tạo, đổi mới và sự gia tăng của nghèo đói.
Sự biến mất của những việc làm cũ là dấu hiệu báo tin cho các người trẻ về các việc làm mới sẽ là gì, ở đâu. Và các người trẻ phải đáp ứng được những kỹ năng, kiến thức và tiêu chuẩn cần thiết nếu muốn tìm được việc làm.
Những việc làm mới đã thay thế những việc làm cũ trong ngành nông nghiệp. Trong thế kỷ 20, nước Mỹ đã phát triển từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp, và giờ là một nền kinh tế của những công việc phục vụ và chất xám (tri thức). Sự biến mất của các việc làm cũ trong thị trường đã ra dấu hiệu cho con người về những kỹ năng họ phải có và những công việc mới sẽ nằm trong lĩnh vực gì và ở đâu.
----------
Việc làm, chính phủ và thị trường
Chính phủ cũng như những cán bộ trong các cơ quan chính phủ không có những dấu hiệu này. Thậm chí, rất nhiều những chương trình tạo việc làm của chính phủ hầu hết không phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong thị trường, mà là đáp ứng nhu cầu của các chính trị gia và những người phụ thuộc vào họ để tồn tại. Nhu cầu của người tiêu dùng trong thị trường là có thật và tự nhiên, còn nhu cầu của những người phụ thuộc vào các chính trị gia thì có thể có nhưng hầu hết là không, mà chỉ là nhu cầu của riêng họ.
Chúng ta cũng nên nhớ, tất cả người dân trong Liên Bang Soviet cũ đều có việc làm, không ai thất nghiệp cả. Nhưng điều đó có đồng nghĩa với việc những việc làm đó có thể tạo ra giá trị cho người tiêu dùng và thị trường?
Chính phủ có thể làm tốt trong việc tạo ra việc làm, nhưng họ không thể tạo ra những công việc có thể tạo ra giá trị cho người tiêu dùng và xã hội. Nếu các chúng ta muốn những công việc tạo ra giá trị, thì những người chúng ta cần là những doanh nhân như Bill Gates, Steve Jobs, và những người khởi nghiệp và kinh doanh cá nhân. Họ mới là những người biết cách tạo ra giá trị và những việc làm có lợi ích cho xã hội.
Trên hết, chương trình tạo ra công ăn việc làm tốt nhất trong lịch sử nhân loại không phải là chính phủ, mà là chủ nghĩa tư bản, thị trường tự do và những doanh nhân cũng như những tham vọng mà nó tạo ra.
---------------------
Tác giả: Steven Horwitz, Does Government Create Jobs?, Learn Liberty
Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com
nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=755443891255794
Link youtube: https://www.youtube.com/watch?v=Vug2H2jyOfk&
Khi Milton Friedman (nhà kinh tế học người Mỹ, Giải Nobel Kinh Tế 1976) đến Trung Quốc tham quan. Đoàn đại biểu Trung Quốc đưa ông ta đến xem một công trình xây dựng họ đang thực hiện. Ông Milton Friedman đã hỏi:
- "Cho tôi hỏi anh – tại sao anh lại dùng người để đào con kênh này bằng xẻng? Sao không dùng xe ủi đất hay máy đào?"
Một thành viên trong đoàn đại biểu Trung Quốc trả lời:
- "Vâng, nhưng nếu chúng tôi dùng máy móc thì chúng tôi không thể tạo nhiều công ăn việc làm được. "
Ông Milton Friedman liền đáp lại:
- "Vậy sao, thì ra đây là một chương trình tạo công ăn việc làm. Tôi tưởng anh muốn xây dựng một con kênh. Nếu anh muốn tạo nhiều việc làm, đừng dùng xẻng mà hãy dùng muỗng để đào."
----------
Việc làm không đồng nghĩa với của cải
Tạo ra công ăn việc làm được nhiều người nhắc đến, nhất là các chính trị gia. Nhưng tạo ra việc làm thì rất dễ, cái khó là tạo ra của cải. Vì 2 thứ này không đồng nghĩa với nhau. Để ví dụ, chúng ta có thể tiêu hủy hết máy móc sản xuất nông nghiệp, điều đó sẽ tạo ra hàng triệu việc làm lao động tay chân ngay lập tức. Nhưng tôi tin rằng không một ai trong chúng ta lại cho rằng đó là một giải pháp chính đáng. Vấn đề ở đây là sự phát triển kinh tế không phải đến khi chúng ta tạo ra việc làm - điều đó rất dễ - mà khi chúng ta bỏ bớt những công việc chúng ta không cần nữa.
----------
Nước Mỹ - từ kinh tế nông nghiệp đến kinh tế chất xám
Một trăm năm về trước, hơn 40% người dân ở Mỹ làm trong hoặc những việc liên quan đến ngành nông nghiệp. Ngày hôm nay thì con số đó chỉ dưới 2%, nhưng số lượng sản phẩm nông nghiệp thì đã bùng nổ nhờ vào sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ trong việc hỗ trợ sản xuất.
Điều gì đã xảy ra đến những việc làm cũ trong ngành nông nghiệp? Khi máy móc đã làm giá cả của các sản phẩm nông nghiệp rẻ hơn, con người phải dùng ít tiền của mình hơn để mua đồ ăn và được dùng tiền của mình vào những thứ khác. Sự phát triển của con người chính là việc chúng ta hủy bỏ những công việc tận dụng tài nguyên khan hiếm nhất – lao động – để sản xuất ra những thứ chúng ta muốn và cần.
Dĩ nhiên những phát minh và đổi mới không xảy ra ngay lập tức, mà dần dần qua thời gian. Và những sự đổi mới của công nghệ đó đồng nghĩa với việc con người phải học những kỹ năng và kiến thức mới, và vài hoặc nhiều người sẽ không tìm được việc làm trong một thời gian. Và trong khi thất nghiệp là một điều tồi tệ, sự lựa chọn khác còn thê thảm hơn. Sự di chuyển của lao động là cái giá chúng ta phải trả để đổi lấy sự phát triển kinh tế. Nên ngăn ngừa nó sẽ dẫn đến việc ngưng phát triển, sáng tạo, đổi mới và sự gia tăng của nghèo đói.
Sự biến mất của những việc làm cũ là dấu hiệu báo tin cho các người trẻ về các việc làm mới sẽ là gì, ở đâu. Và các người trẻ phải đáp ứng được những kỹ năng, kiến thức và tiêu chuẩn cần thiết nếu muốn tìm được việc làm.
Những việc làm mới đã thay thế những việc làm cũ trong ngành nông nghiệp. Trong thế kỷ 20, nước Mỹ đã phát triển từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp, và giờ là một nền kinh tế của những công việc phục vụ và chất xám (tri thức). Sự biến mất của các việc làm cũ trong thị trường đã ra dấu hiệu cho con người về những kỹ năng họ phải có và những công việc mới sẽ nằm trong lĩnh vực gì và ở đâu.
----------
Việc làm, chính phủ và thị trường
Chính phủ cũng như những cán bộ trong các cơ quan chính phủ không có những dấu hiệu này. Thậm chí, rất nhiều những chương trình tạo việc làm của chính phủ hầu hết không phải thực hiện để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong thị trường, mà là đáp ứng nhu cầu của các chính trị gia và những người phụ thuộc vào họ để tồn tại. Nhu cầu của người tiêu dùng trong thị trường là có thật và tự nhiên, còn nhu cầu của những người phụ thuộc vào các chính trị gia thì có thể có nhưng hầu hết là không, mà chỉ là nhu cầu của riêng họ.
Chúng ta cũng nên nhớ, tất cả người dân trong Liên Bang Soviet cũ đều có việc làm, không ai thất nghiệp cả. Nhưng điều đó có đồng nghĩa với việc những việc làm đó có thể tạo ra giá trị cho người tiêu dùng và thị trường?
Chính phủ có thể làm tốt trong việc tạo ra việc làm, nhưng họ không thể tạo ra những công việc có thể tạo ra giá trị cho người tiêu dùng và xã hội. Nếu các chúng ta muốn những công việc tạo ra giá trị, thì những người chúng ta cần là những doanh nhân như Bill Gates, Steve Jobs, và những người khởi nghiệp và kinh doanh cá nhân. Họ mới là những người biết cách tạo ra giá trị và những việc làm có lợi ích cho xã hội.
Trên hết, chương trình tạo ra công ăn việc làm tốt nhất trong lịch sử nhân loại không phải là chính phủ, mà là chủ nghĩa tư bản, thị trường tự do và những doanh nhân cũng như những tham vọng mà nó tạo ra.
---------------------
Tác giả: Steven Horwitz, Does Government Create Jobs?, Learn Liberty
Dịch giả: Ku Búa @ cafekubua.com
nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=755443891255794
Link youtube: https://www.youtube.com/watch?v=Vug2H2jyOfk&
Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016
CHÍNH PHỦ NÊN LỚN ĐẾN MỨC NÀO?
Chính phủ nên lớn đến mức nào?Và vai trò đúng nghĩa của chính phủ trong đời sống hàng ngày của người dân Mỹ nên là gì? Cánh Hữu và Cánh Tả có câu trả lời trái ngược nhau.
Series sự khác biệt giữa phe Cánh Tả - Cánh Hữu của Dennis Prager, Phần 1: Chính Phủ nên lớn đến đâu? Phe Bảo Thủ và Phe Tự Do khác nhau đến mức nào?
Một trong những sự khác biệt quan trọng nhất giữa Cánh Tả và Cánh Hữu là cách mỗi bên quan tâm đến vai trò và khuôn khổ của chính phủ.
Cánh Tả tin rằng nhà nước nên là lực lượng hùng mạnh nhất trong xã hội. Giữa những thứ khác, chính phủ nên kiểm soát việc giáo dục từng đứa trẻ, nên cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, và nên chỉnh đốn thường xuyên cho đến những chi tiết nhỏ nhất cách các doanh nghiệp quản lý việc kinh doanh của họ -- Ở Đức, ví dụ, chính phủ ra luật về giờ giấc các cửa hàng phải đóng cửa. Ngắn gọn lại, không nên có quyền lực ý tưởng nào có thể cạnh tranh được với chính quyền. Không phải phụ huynh, không phải doanh nghiệp, không phải trường tư, không phải các tổ chức tôn giáo, càng không phải các thành phần những cá nhân có lương tâm.
Phe Cánh Hữu, mặt khác, họ tin rằng vai trò của chính phủ trong xã hội nên bị giới hạn tới mức tối thiểu như phòng vệ quốc gia và nên là giải pháp cuối cùng để giúp các công dân, những người mà không được gia đình họ, cộng đồng, hay tổ chức từ thiện của tôn giáo hoặc phi tôn giáo giúp đỡ.
Phe Cánh Hữu hiểu rằng vì chính phủ lớn mạnh lên theo kích cỡ và quyền lực, những điều sau chắc chắn sẽ xảy ra:
1.Sẽ có sự gia tăng về số lượng tham nhũng. Quyền lực và tiền bạc sinh ra sự tham nhũng. Những người trong chính phủ sẽ lợi dụng cái ảnh hưởng của chính phủ cho cái lợi cá nhân và chính trị riêng. Và những người bên ngoài chính phủ sẽ muốn có được sự ảnh hưởng và ơn huệ. Ở Châu Phi và Mỹ Latin, sự tham nhũng của chính phủ đã là một yếu tố to lớn nhất làm kìm nén sự phát triển.
2. Tự do cá nhân sẽ giảm. Với một vài ngoại lệ như việc không hạn chế phá thai, tự do cá nhân sẽ ít quan trọng hơn đối với Cánh Tả khi so với Cánh Hữu. Đây chẳng phải lời chỉ trích cũng chẳng phải là ý kiến. Nó đơn giản là logic. Chính phủ càng có quyền kiểm soát người dân bao nhiêu, thì người dân càng mất đi tự do bấy nhiêu.
3.Các nước với sự bành trướng của chính phủ sẽ giảm quy mô của chính phủ hoặc cuối cùng thì cũng bị sụp đổ. Mô hình nhà nước phúc lợi cuối cùng sẽ biến thành một thương vụ Ponzi, phụ thuộc vào người trả lương mới để trả lương cho người đi trước; và khi người trả lương không còn nữa, mô hình này cũng sụp đổ theo. Và các nhà nước phúc lợi của thế giới, bao gồm cả các nước Châu Âu giàu có, đang trải nghiệm vấn đề này theo nhiều góc độ.
4.Để trả lương cho một chính phủ đang trên đà nới rộng, thuế phải liên tục gia tăng. Nhưng ở mức độ thuế nào đó, những người sản xuất ra sự thịnh vượng của xã hội sẽ ngừng làm việc, làm việc ít hơn, thuê ít người hơn, hoặc di dời công việc kinh doanh ra khỏi khu vực hoặc ra nước khác.
5.Chính phủ lớn thì sẽ sinh ra thâm hụt ngân sách nặng nề và nó sẽ gia tăng – và cuối cùng không duy trì được – nợ. Điều này cũng vậy, chỉ là logic mà thôi. Nhà nước càng được trao càng nhiều tiền, thì người dân càng đòi nhiều tiền hơn từ nhà nước bấy nhiêu. Không có ai nhận tiền miễn phí mà lại nói “Cảm ơn. Tôi đã có đủ.”
Trừ khi chính phủ lớn trở nên nhỏ lại, cuối cùng họ sẽ sụp đổ dưới chính cái sức nặng của họ -- cùng với những hậu quả tồi tệ cho xã hội cũng như nền kinh tế.
6.Chính phủ càng lớn bao nhiêu, thì cơ hội cho việc ác càng nhiều lên bấy nhiêu. Thế kỷ 20 là thế kỷ chết chóc nhất được ghi lại trong lịch sử. Và ai là kẻ đã thực hiện việc này? Các chính phủ lớn. Các cá nhân độc ác mà không có quyền lực chỉ có thể làm hại người khác đến mức nào đó thôi. Nhưng khi mà các cá nhân độc ác đó kiểm soát một chính phủ lớn, thì số việc gây hại họ có thể làm là bất tận. Cánh Hữu sợ các chính phủ lớn. Cánh Tả lại sợ các doanh nghiệp lớn. Nhưng Coca Cola không thể đột nhập vào nhà bạn và tịch thu tài sản của bạn – chỉ có các chính phủ lớn mới có thể làm thế. Các tập đoàn có thể làm việc thiếu trách nhiệm, nhưng cũng chỉ có các chính phủ lớn mới có thể xây dựng nên các trại tập trung và phạm tội diệt chủng mà thôi.
7.Các chính phủ lớn làm mòn tính cách đạo đức của một quốc gia. Mọi người không còn quan tâm đến người khác nữa. Suy cho cùng, họ biết rằng chính phủ sẽ làm việc đó. Đó là vì sao người Mỹ cho đi những đồng tiền của họ và họ tình nguyện hy sinh thời gian của mình cho việc làm từ thiện nhiều hơn người Châu Âu ở chung mức độ kinh tế.
Nếu không có niềm tin về việc mở rộng chính phủ, sẽ chẳng có Cánh Tả. Nếu không có niềm tin vào việc giới hạn chính phủ, sẽ chẳng có Cánh Hữu.
Tôi là Dennis Prager.
----------
Ghost & Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=753904374743079
Series sự khác biệt giữa phe Cánh Tả - Cánh Hữu của Dennis Prager, Phần 1: Chính Phủ nên lớn đến đâu? Phe Bảo Thủ và Phe Tự Do khác nhau đến mức nào?
Một trong những sự khác biệt quan trọng nhất giữa Cánh Tả và Cánh Hữu là cách mỗi bên quan tâm đến vai trò và khuôn khổ của chính phủ.
Cánh Tả tin rằng nhà nước nên là lực lượng hùng mạnh nhất trong xã hội. Giữa những thứ khác, chính phủ nên kiểm soát việc giáo dục từng đứa trẻ, nên cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, và nên chỉnh đốn thường xuyên cho đến những chi tiết nhỏ nhất cách các doanh nghiệp quản lý việc kinh doanh của họ -- Ở Đức, ví dụ, chính phủ ra luật về giờ giấc các cửa hàng phải đóng cửa. Ngắn gọn lại, không nên có quyền lực ý tưởng nào có thể cạnh tranh được với chính quyền. Không phải phụ huynh, không phải doanh nghiệp, không phải trường tư, không phải các tổ chức tôn giáo, càng không phải các thành phần những cá nhân có lương tâm.
Phe Cánh Hữu, mặt khác, họ tin rằng vai trò của chính phủ trong xã hội nên bị giới hạn tới mức tối thiểu như phòng vệ quốc gia và nên là giải pháp cuối cùng để giúp các công dân, những người mà không được gia đình họ, cộng đồng, hay tổ chức từ thiện của tôn giáo hoặc phi tôn giáo giúp đỡ.
Phe Cánh Hữu hiểu rằng vì chính phủ lớn mạnh lên theo kích cỡ và quyền lực, những điều sau chắc chắn sẽ xảy ra:
1.Sẽ có sự gia tăng về số lượng tham nhũng. Quyền lực và tiền bạc sinh ra sự tham nhũng. Những người trong chính phủ sẽ lợi dụng cái ảnh hưởng của chính phủ cho cái lợi cá nhân và chính trị riêng. Và những người bên ngoài chính phủ sẽ muốn có được sự ảnh hưởng và ơn huệ. Ở Châu Phi và Mỹ Latin, sự tham nhũng của chính phủ đã là một yếu tố to lớn nhất làm kìm nén sự phát triển.
2. Tự do cá nhân sẽ giảm. Với một vài ngoại lệ như việc không hạn chế phá thai, tự do cá nhân sẽ ít quan trọng hơn đối với Cánh Tả khi so với Cánh Hữu. Đây chẳng phải lời chỉ trích cũng chẳng phải là ý kiến. Nó đơn giản là logic. Chính phủ càng có quyền kiểm soát người dân bao nhiêu, thì người dân càng mất đi tự do bấy nhiêu.
3.Các nước với sự bành trướng của chính phủ sẽ giảm quy mô của chính phủ hoặc cuối cùng thì cũng bị sụp đổ. Mô hình nhà nước phúc lợi cuối cùng sẽ biến thành một thương vụ Ponzi, phụ thuộc vào người trả lương mới để trả lương cho người đi trước; và khi người trả lương không còn nữa, mô hình này cũng sụp đổ theo. Và các nhà nước phúc lợi của thế giới, bao gồm cả các nước Châu Âu giàu có, đang trải nghiệm vấn đề này theo nhiều góc độ.
4.Để trả lương cho một chính phủ đang trên đà nới rộng, thuế phải liên tục gia tăng. Nhưng ở mức độ thuế nào đó, những người sản xuất ra sự thịnh vượng của xã hội sẽ ngừng làm việc, làm việc ít hơn, thuê ít người hơn, hoặc di dời công việc kinh doanh ra khỏi khu vực hoặc ra nước khác.
5.Chính phủ lớn thì sẽ sinh ra thâm hụt ngân sách nặng nề và nó sẽ gia tăng – và cuối cùng không duy trì được – nợ. Điều này cũng vậy, chỉ là logic mà thôi. Nhà nước càng được trao càng nhiều tiền, thì người dân càng đòi nhiều tiền hơn từ nhà nước bấy nhiêu. Không có ai nhận tiền miễn phí mà lại nói “Cảm ơn. Tôi đã có đủ.”
Trừ khi chính phủ lớn trở nên nhỏ lại, cuối cùng họ sẽ sụp đổ dưới chính cái sức nặng của họ -- cùng với những hậu quả tồi tệ cho xã hội cũng như nền kinh tế.
6.Chính phủ càng lớn bao nhiêu, thì cơ hội cho việc ác càng nhiều lên bấy nhiêu. Thế kỷ 20 là thế kỷ chết chóc nhất được ghi lại trong lịch sử. Và ai là kẻ đã thực hiện việc này? Các chính phủ lớn. Các cá nhân độc ác mà không có quyền lực chỉ có thể làm hại người khác đến mức nào đó thôi. Nhưng khi mà các cá nhân độc ác đó kiểm soát một chính phủ lớn, thì số việc gây hại họ có thể làm là bất tận. Cánh Hữu sợ các chính phủ lớn. Cánh Tả lại sợ các doanh nghiệp lớn. Nhưng Coca Cola không thể đột nhập vào nhà bạn và tịch thu tài sản của bạn – chỉ có các chính phủ lớn mới có thể làm thế. Các tập đoàn có thể làm việc thiếu trách nhiệm, nhưng cũng chỉ có các chính phủ lớn mới có thể xây dựng nên các trại tập trung và phạm tội diệt chủng mà thôi.
7.Các chính phủ lớn làm mòn tính cách đạo đức của một quốc gia. Mọi người không còn quan tâm đến người khác nữa. Suy cho cùng, họ biết rằng chính phủ sẽ làm việc đó. Đó là vì sao người Mỹ cho đi những đồng tiền của họ và họ tình nguyện hy sinh thời gian của mình cho việc làm từ thiện nhiều hơn người Châu Âu ở chung mức độ kinh tế.
Nếu không có niềm tin về việc mở rộng chính phủ, sẽ chẳng có Cánh Tả. Nếu không có niềm tin vào việc giới hạn chính phủ, sẽ chẳng có Cánh Hữu.
Tôi là Dennis Prager.
----------
Ghost & Ku Búa @ CAFEKUBUA.COM nguồn: https://www.facebook.com/video.php?v=753904374743079
Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015
Giới hạn quyền lực công vụ trong các mối quan hệ xã hội
nguồn: http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Suy-ngam/807868/gioi-han-cua-quyen-luc-cong-vu-trong-cac-moi-quan-he-xa-hoi.
Trước hết nói về người thừa hành công vụ. Về nguyên tắc, cán bộ, nhân viên đang thừa hành công vụ, gọi theo cách khác là thực thi QUYỀN LỰC CÔNG VỤ (cho phép hoặc không cho phép), là người đại diện cho quyền lực nhà nước dù chỉ là một nhân viên hành chính, bảo vệ hay công an ở cấp thôn, xã... Vì là người đại diện cho quyền lực nhà nước thực thi quyền lực công vụ nên họ phải ứng xử trong mối quan hệ với công dân theo những quy định pháp lý. Và đây là quan hệ giữa con người với con người nên bên cạnh tuân theo quy định pháp lý họ phải tuân theo những quy tắc đạo đức mà xã hội công nhận.
Không ai nghi vấn quyền lực mà Nhà nước trao cho cán bộ công vụ nhưng việc sử dụng quyền lực công vụ lại phụ thuộc vào năng lực, đặc biệt là phẩm chất của người cán bộ công vụ.Có thể thấy về lý thuyết hầu hết các cơ quan nhà nước đều quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người thực thi quyền lực công vụ.Song, bản chất người là luôn lợi dụng quyền lực công vụ để thỏa mãn cơn khát về danh, phận (cũng là một thứ trục lợi), tiền tài.Một khi con người được trao quyền lực họ sẽ có xu hướng nghĩ rằng quyền lực công vụ luôn dành cho họ, và họ có quyền nắm giữ suốt những năm tháng làm việc, trong quá trình nắm giữ muốn sử dụng như thế nào là quyền của họ. Do đó họ đã ứng xử với người dân đến "nhờ vả" theo cách trịch thượng để có được kết quả đúng như những gì họ muốn. Dưới mắt họ, những công dân đến với họ vì quyền lợi (dù là hợp pháp, chính đáng hoặc không) đều "tối dạ" hoặc "ngang ngạnh coi thường thẩm quyền" của họ. Chính vì thế mà có những người thường xuyên gia tăng cách hành xử phi văn hóa đối với người dân. Khi hành xử phi văn hóa như vậy thì họ bị người dân căm ghét. Nhưng thái độ căm ghét của người dân lại là chất xúc tác tiêu cực để hành vi phi văn hóa trong một bộ phận cán bộ công vụ - nhất là ở cấp cơ sở của hệ thống chính quyền - gia tăng. Trong nhiều trường hợp, họ dùng vũ lực để khẳng định vị trí và quyền lực trước những người dân đang căm ghét họ ra mặt để buộc ai đó phải nể sợ. Ngược lại, nếu được ca ngợi và được ve vuốt bằng những lợi ích vật chất (còn được gọi là chất bôi trơn) họ sẽ giải quyết công việc dựa trên sự thiên vị nhuốm màu tiền bạc và sự thỏa mãn quyền lực.
Thực ra họ ảo tưởng về chính mình, vì quyền lực công vụ là của Nhà nước, họ chỉ được Nhà nước giao cho chứ không phải con người họ tạo nên quyền lực. Sự ảo tưởng khác nhau dẫn đến sự lạm dụng quyền lực ở mức độ khác nhau. Họ cố tình không biết rằng Nhà nước cho họ mọi thứ, còn họ đang làm hại Nhà nước bằng việc lạm dụng quyền lực công vụ được giao để trục lợi. Khi tiếp xúc với những cán bộ công quyền và bị đối xử phi văn hóa làm cho người dân có cảm thức mất tự do và bị xúc phạm. Nếu tình trạng lạm dụng quyền lực công vụ để làm bậy trở nên phổ biến sẽ đưa đến thảm họa cho xã hội và chế độ, sẽ làm tan vỡ cả hệ thống nhà nước mà không cần một cuộc chiến tranh nào.
Hầu hết những vụ người thi hành công vụ lợi dụng quyền lực công vụ để đe dọa, xúc phạm, hành hung người khác (hoặc ngược lại) chưa được xử lý triệt để, mà chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính hoặc tự thỏa thuận giải quyết với nhau. Trong chúng ta ít nhất cũng một vài lần thất vọng khi chứng kiến việc xử lý một vài vụ việc theo mô hình "trống đánh xuôi kèn thổi ngược", hoặc "để lâu... hóa bùn". Cái hố đen khoảng cách giữa việc thụ lý "kiên quyết" ban đầu và kết quả xử lý cuối cùng ngày càng sâu hơn, rộng hơn, sẽ làm cho người ta mất lòng tin vào sự công minh và nguyên tắc bất vị thân trong thực thi pháp luật - ít nhất là về mặt lý thuyết. Do đó, những cán bộ lợi dụng quyền lực công vụ để trục lợi về tinh thần, vật chất (hoặc ngược lại) luôn trở thành gánh nặng (nếu không nói là lực lượng phản lại sự vận động) của quá trình phát triển. Việc cần có chiến lược để gỡ bỏ gánh nặng - lực lượng chống lại sự phát triển, là hết sức cần thiết.
Chúng ta không thể xây dựng và phát triển đất nước dựa trên tình trạng phổ biến tham nhũng và thái độ ứng xử tồi tệ của cán bộ công vụ đối với người dân. Xã hội phát triển cũng không phải được xây nên từ sự từ bỏ nền tảng pháp lý và đạo đức, cũng không phải từ sự thỏa hiệp những lợi ích phi pháp của những cá nhân và một bộ phận xã hội. Xử lý nghiêm, loại bỏ những người vi phạm ra khỏi bộ máy vận hành là hết sức cần thiết. Chỉ khi cá nhân được đặt trong các mối quan hệ công vụ thì cá nhân đó mới là người đại diện của tổ chức, còn khi cách li khỏi quyền lực công vụ thì họ không còn có giá trị đại diện. Trong những giải pháp cải cách công vụ là phải kiên quyết sa thải những người lợi dụng quyền lực công vụ để trục lợi, xử lý nghiêm minh bằng biện pháp pháp lý những người lợi dụng quyền lực công dân, quyền lực báo chí và cả quyền lực công vụ để bắt người khác thực hiện theo lợi ích phi pháp của mình. Không ai đứng trên pháp luật, dù họ là ai - đó là nguyên tắc của một xã hội tiến bộ,văn minh.
Thực ra họ ảo tưởng về chính mình, vì quyền lực công vụ là của Nhà nước, họ chỉ được Nhà nước giao cho chứ không phải con người họ tạo nên quyền lực. Sự ảo tưởng khác nhau dẫn đến sự lạm dụng quyền lực ở mức độ khác nhau. Họ cố tình không biết rằng Nhà nước cho họ mọi thứ, còn họ đang làm hại Nhà nước bằng việc lạm dụng quyền lực công vụ được giao để trục lợi. Khi tiếp xúc với những cán bộ công quyền và bị đối xử phi văn hóa làm cho người dân có cảm thức mất tự do và bị xúc phạm. Nếu tình trạng lạm dụng quyền lực công vụ để làm bậy trở nên phổ biến sẽ đưa đến thảm họa cho xã hội và chế độ, sẽ làm tan vỡ cả hệ thống nhà nước mà không cần một cuộc chiến tranh nào.
Hầu hết những vụ người thi hành công vụ lợi dụng quyền lực công vụ để đe dọa, xúc phạm, hành hung người khác (hoặc ngược lại) chưa được xử lý triệt để, mà chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính hoặc tự thỏa thuận giải quyết với nhau. Trong chúng ta ít nhất cũng một vài lần thất vọng khi chứng kiến việc xử lý một vài vụ việc theo mô hình "trống đánh xuôi kèn thổi ngược", hoặc "để lâu... hóa bùn". Cái hố đen khoảng cách giữa việc thụ lý "kiên quyết" ban đầu và kết quả xử lý cuối cùng ngày càng sâu hơn, rộng hơn, sẽ làm cho người ta mất lòng tin vào sự công minh và nguyên tắc bất vị thân trong thực thi pháp luật - ít nhất là về mặt lý thuyết. Do đó, những cán bộ lợi dụng quyền lực công vụ để trục lợi về tinh thần, vật chất (hoặc ngược lại) luôn trở thành gánh nặng (nếu không nói là lực lượng phản lại sự vận động) của quá trình phát triển. Việc cần có chiến lược để gỡ bỏ gánh nặng - lực lượng chống lại sự phát triển, là hết sức cần thiết.
Chúng ta không thể xây dựng và phát triển đất nước dựa trên tình trạng phổ biến tham nhũng và thái độ ứng xử tồi tệ của cán bộ công vụ đối với người dân. Xã hội phát triển cũng không phải được xây nên từ sự từ bỏ nền tảng pháp lý và đạo đức, cũng không phải từ sự thỏa hiệp những lợi ích phi pháp của những cá nhân và một bộ phận xã hội. Xử lý nghiêm, loại bỏ những người vi phạm ra khỏi bộ máy vận hành là hết sức cần thiết. Chỉ khi cá nhân được đặt trong các mối quan hệ công vụ thì cá nhân đó mới là người đại diện của tổ chức, còn khi cách li khỏi quyền lực công vụ thì họ không còn có giá trị đại diện. Trong những giải pháp cải cách công vụ là phải kiên quyết sa thải những người lợi dụng quyền lực công vụ để trục lợi, xử lý nghiêm minh bằng biện pháp pháp lý những người lợi dụng quyền lực công dân, quyền lực báo chí và cả quyền lực công vụ để bắt người khác thực hiện theo lợi ích phi pháp của mình. Không ai đứng trên pháp luật, dù họ là ai - đó là nguyên tắc của một xã hội tiến bộ,văn minh.
Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015
CÁC NGUYÊN LÝ CỦA NỀN PHÁP QUYỀN
nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_principles_vii.html
Trong hầu hết lịch sử nhân loại, giai cấp thống trị và luật pháp đồng nghĩa với nhau, luật pháp đơn giản chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Bước đầu tiên để thoát khỏi chính thể chuyên chế đó là khái niệm pháp quyền, kể cả khái niệm kẻ thống trị cũng phải tuân thủ luật pháp và phải cai trị bằng các công cụ pháp luật. Các nền dân chủ đi xa hơn bằng việc xây dựng pháp quyền. Mặc dù bất cứ xã hội hay hệ thống chính phủ nào cũng đều có vấn đề, nhưng pháp quyền bảo vệ các quyền chính trị, xã hội và kinh tế cơ bản và nhắc nhở chúng ta rằng chính thể chuyên chế và vô luật pháp không phải là những lựa chọn duy nhất.
- Pháp quyền có nghĩa là không một cá nhân nào, dù là tổng thống hay công dân, được đứng trên luật pháp. Các chính phủ dân chủ thực thi quyền lực bằng luật pháp và bản thân họ cũng phải chịu những hạn chế của luật pháp.
- Luật pháp phải thể hiện ý chí của nhân dân, chứ không phải ý muốn của các vị hoàng đế, những nhà độc tài, các tướng lĩnh, chức sắc tôn giáo hay các đảng phái chính trị tự phong.
- Công dân ở các nền dân chủ sẵn sàng tuân thủ luật pháp của xã hội bởi vì họ đang tuân thủ chính những nguyên tắc và quy định của họ. Công lý đạt được một cách hoàn thiện nhất khi luật pháp được xây dựng bởi chính người dân, những người phải tuân thủ luật pháp.
- Theo pháp quyền, một hệ thống toà án độc lập và vững mạnh phải có sức mạnh, quyền lực, các nguồn lực và uy tín để buộc các quan chức chính phủ, kể cả những nhà lãnh đạo cao nhất phải chịu trách nhiệm trước các quy định và luật pháp của quốc gia.
- Vì thế các thẩm phán phải là những người được đào tạo tốt, có chuyên môn, độc lập và vô tư. Để thực hiện được vai trò quan trọng của họ trong hệ thống chính trị và pháp lý, các thẩm phán phải trung thành với các nguyên tắc dân chủ.
- Luật pháp của một nền dân chủ có thể có nhiều nguồn: hiến pháp thành văn, các bộ luật và quy định; các giáo huấn tôn giáo và sắc tộc; các thông lệ và truyền thống văn hóa. Dẫu có nguồn gốc gì đi nữa, luật pháp phải có những quy định bảo vệ các quyền và sự tự do của công dân:
- Theo yêu cầu được bảo vệ bình đẳng trước luật pháp, luật pháp không được áp dụng riêng cho bất cứ cá nhân hay nhóm người nào.
- Công dân không bị bắt giữ tuỳ tiện, nhà cửa không bị khám xét mà không có lý do chính đáng hoặc không bị tịch thu tài sản cá nhân.
- Công dân phạm tội phải được xét xử công khai và nhanh chóng, được đối diện và chất vấn những người cáo buộc. Nếu bị kết án, họ có thể không phải chịu những hình phạt dã man và hoặc bất thường.
- Công dân không bị ép buộc phải nhận tội. Nguyên tắc này bảo vệ cho công dân khỏi bị ép buộc, lạm dụng hoặc đánh đập và giảm đáng kể tình trạng cảnh sát sử dụng những biện pháp đó.
Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015
Bàn về tự do (John Stuart Mill_Nguyễn Văn Trọng dịch) tóm tắt 3 (trang 33-57)
p33 Mục đích của luận văn này là khẳng định một nguyên lý kiểm soát xã hội đối với bản thân cá nhân. Nguyên lý ấy là mục đích duy nhất của nhân loại (cá nhân, tập thể) nhắm tới trong việc can thiệp tới quyền tự do hoạt động của bất cứ thành viên phải là sự tự bảo hộ. Tức là quyền lực nhà nước có thể thực thi chính đáng đối với các thành viên chống lại ý chí của anh ta, chỉ khi nó nhằm ngăn chặn tổn hại cho những người khác. Anh ta không bị cưỡng ép phải làm hay nhẫn nhịn điều gì, với lý do cái đó sẽ làm cho anh ta hạnh phúc hơn, hoặc với lý do theo ý kiến của những người khác cho rằng như thế là khôn ngoan hơn, hay thậm chí là đúng đắn. Để biện minh cho việc muốn ngăn cản anh ta thì hành vi của anh ta phải là toan tính gây điều xấu cho ai đó. Chỉ phần cư xử của ai đó liên can đến người khác mới phải vâng theo xã hội. Trong phần cư xử giới hạn liên can đến bản thân anh ta, sự độc lập của anh ta là một quyền hạn tuyệt đối. Con người cá nhân là chúa tể đối với bản thân anh ta, đối với thân thể và tâm hồn của riêng anh ta.
*.Một người có thể làm điều xấu cho người khác không chỉ bằng những hành động của mình mà còn bằng cả việc không hành động nữa, trong cả hai trường hợp anh ta đều phải chịu trách nhiệm với họ về tổn hại gây ra.
p47. Bàn về tự do tư tưởng, tự do thảo luận.
Hy vọng đã qua rồi cái thời cần phải bảo vệ quyền tự do báo chí như là một trong những bảo đảm an toàn chống lại nền cai trị tham nhũng và chuyên chế. Chúng ta có thể xem như bây giờ không cần thiết để đưa ra bất cứ luận cứ nào phản đối chính quyền hành pháp và lập pháp không đồng nhất về quyền lợi với dân chúng, nhưng lại có quyền gán ghép ý kiến của mình cho dân chúng và qui định cho họ học thuyết nào hay luận cứ nào họ được phép nghe. Bất cứ một chính phủ có trách nhiệm với dân chúng hay không mà lại thường xuyên mưu toan kiểm soát việc biểu lộ ý kiến, thì chính phủ đó sẽ tự biến mình thành một công cụ cho sự không dung thứ của công chúng. Vậy ta giả sử rằng: chính phủ với dân chúng là một chính phủ không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực để ép buộc (trừ khi sự ép buộc đó thuận theo tiếng nói của dân chúng). Nhưng tôi phủ nhận quyền của dân chúng thực hiện sự ép buộc đó, dù là họ đích thân thực hiện hay thông qua chính phủ của họ. Khi quyền đó được sử dụng theo công luận thì cũng là cái có hại hay thậm chí còn hại nhiều hơn là trường hợp đối lập với công luận. Nếu toàn thể nhân loại trừ ra một người đều cùng một ý kiến, và chỉ có một người có ý kiến trái lại, thì việc bắt người đó phải ngậm miệng (bỏ tù), nhân loại cũng không vẻ vang gì. Nhưng cái xấu xa của việc bắt một ý kiến không được trình bày là sự đánh cắp đối với loài người, với các thế hệ mai sau hay hiện nay, thiệt hại cho người bất đồng với ý kiến đó hơn là cho người giữ ý kiến đó. Nếu ý kiến đó là đúng thì người ta đã bị tước đi cơ hội bỏ cái sai lấy cái đúng, nếu ý kiến đó là sai thì có mất đi một cái lợi lớn là cảm nhận được cái đúng một cách minh triết và sống động hơn.
Cần phải xem xét riêng hai giả thiết này, mỗi cái có lý lẽ riêng phù hợp với nó. Chúng ta không bao giờ chắc chắn rằng cái ý kiến mà ta đang cố dập tắt là một ý kiến sai lầm; ngay nếu như chúng ta tin chắc đi nữa thì việc dập tắt nó vẫn là một điều xấu xa.
Thứ nhất, cái ý kiến đang bị quyền uy cố dập tắt đi có thể là đúng. Tất nhiên những người muốn dập tắt nó phủ nhận sự thật này nhưng họ đâu phải là thánh thần mà không hề sai bao giờ. Họ không có thẩm quyền quyết định cho toàn thể nhân loại và tước đi phương tiện xét đoán của bất cứ người nào. Khước từ lắng nghe một ý kiến vì họ tin chắc ý kiến đó là sai lầm, có nghĩa là coi sự tin chắc của họ là chắc chắn tuyệt đối. Mọi sự bịt miệng trong thảo luận đều hàm ý tính không bao giờ sai. Khốn khổ thay cho loài người là cái sự thật về tính có thể sai lầm lại thường xảy ra, hiện thời thì ai cũng biết rõ là mình có thể sai lầm, nhưng ít người chịu nghĩ là cần phải đề phòng tính có thể sai lầm của mình, hay thú nhận rằng bất cứ ý kiến nào mà họ cảm thấy rất chắc chắn lại có thể là một ví dụ về sự lầm lẫn.
Mỗi thời đại đều đã bảo vệ nhiều ý kiến mà các thời đại sau chẳng những coi là sai lầm mà còn coi là ngớ ngẩn nữa, và hẳn là nhiều ý kiến hiện nay được thừa nhận rộng rãi sẽ bị các thời đại tương lai bác bỏ. Việc ngăn cấm truyền bá những gì sai trái thì cái giả thiết không bao giờ sai là luôn luôn đúng ? Chẳng lẽ vì cớ nó có thể sai lầm mà bảo người ta không được làm ? Chẳng lẽ chúng ta có quyền ngăn cấm quyền được có thể sai lầm của người khác ? Giả sử như ta không bao giờ hành động theo ý kiến của ta, chỉ vì những ý kiến ấy có thể sai, thì ta phải bỏ hết mọi quyền lợi của ta để tự tìm ra cái đúng ? Nghĩa vụ của chính phủ và các cá nhân là hình thành các ý kiến chân thực nhất như họ có thể, hình thành các ý kiến một cách thận trọng, và không bao giờ áp đặt chúng cho người khác, ngoại trừ khi cảm thấy chắc chắn rằng họ đúng. Nhưng khi họ cảm thấy chắc chắn rồi (những người biện bạch có thể nói thế), mà chùn lại không hành động theo ý kiến của mình thì là hèn nhát, như thế tức là cho phép các học thuyết mà họ trung thực nghĩ rằng chúng nguy hiểm cho hạnh phúc của loài người, được lan truyền ra ngoài mà không bị kiềm chế, chỉ vì lẽ đã từng có những người khác, ở vào các thời buổi chưa được khai sáng, đã ngược đãi các ý kiến nay được tin là đúng. Con người và chính phủ phải hành động tốt nhất như có thể theo khả năng của họ. Chúng ta có thể và cần xem ý kiến của chúng ta là đúng để hướng dẫn hành vi của chúng ta: và chẳng có gì là ngạo mạn quá đáng khi chúng ta ngăn cấm những kẻ xấu làm hại xã hội bằng cách truyền bá những ý kiến mà chúng ta coi là sai lầm và có hại.
Tôi xin trả lời rằng : như thế là ngạo mán rất quá đáng. Một ý kiến được coi là đúng, khi mà trong mọi cơ hội thử thách, nó vẫn không bị bác bỏ. Sự tự do trọn vẹn trong việc phản bác lại ý kiến của chúng ta chính là điều kiện biện minh cho chúng ta trong việc xem mục tiêu hành động là chân lý; và không có điều kiện nào khác hơn để cho con người, với những khả năng giới hạn của mình, có thể có được sự đảm bảo rằng ý kiến mình là đúng. Đa số những người xuất chúng của bất cứ thế hệ nào trong quá khứ cũng đã bênh vực nhiều ý kiến mà ngày nay biết là sai lầm và họ cũng đã từng tán thành những việc mà ngày nay không một ai cho là đúng nữa. Vì vậy thì tại sao xét về toàn thể lại có ưu thế nghiêng về những ý kiến có lý? Phẩm chất tinh thần của loài người là một thực thể có trí tuệ và đạo đức. Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Những ý kiến và thực tiễn sai lầm dần dần tạo nên các sự kiện và luận cứ, tuy nhiên sự kiện và luận cứ trước hết phải được nêu ra mới có tác dụng lên trí tuệ được. Có rất ít các sự kiện tự thân nói lên được thực chất của chúng mà không cần bình luận để đưa ra được ý nghĩa của chúng. Sự suy xét của con người có một đặc tính: nó có thể cho điều này là đúng hay là sai trái, và chỉ khi nào nắm được các phương tiện xác định đúng sai trong tay thì sự suy xét mới đáng tin cậy. Trong trường hợp sự suy xét của ai đó thực sự đáng được tin cậy thì nguyên nhân là ở đâu? Đó là bởi anh ta luôn mở trí tuệ để đón nhận sự phê phán đối với các ý kiến và cung cách cư xử của mình. Đó là anh ta luôn lắng nghe tất cả những gì có thể nói ra chống lại anh ta; khai thác thật nhiều lợi ích từ việc đó và giải thích cho bản thân mình rõ, và nếu có dịp thì cho cả người khác. Đó là bởi anh ta cảm nhận thấy rằng, cách thức duy nhất để con người tiếp cận với tri thức về đối tượng xem xét, là lắng nghe những gì có thể nói về đối tượng đó bởi những người có ý kiến khác nhau và nghiên cứu mọi kiểu cách nhìn nhận đối tượng của những người có tính cách tinh thần khác nhau. Không có một người minh triết nào thu nhận được sự thông tuệ bằng bất cứ kiểu nào khác hơn thế, mà bản chất trí tuệ con người cũng không cho ai trở thành minh triết bằng một cách nào khác hơn được. Cái thói quen thường xuyên hiệu chỉnh và hoàn thiện ý kiến của mình bằng cách đối chiếu nó với ý kiến của những người khác tuyệt nhiên không phải là việc hoài nghi hay do dự khi thực hiện, mà chỉ là sự thiết lập cơ sở vững chắc duy nhất cho niềm tin vào nó: vì rằng: một khi đã biết được mọi điều có thể nói ra chống lại anh và giữ cho mình một lập trường xác định chống lại mọi phía phản bác - hiểu rằng mình đi tìm kiếm các phản đối và khó khăn chứ không lãng tránh chúng, và đã không che lấp ánh sáng soi rọi đối tượng từ mọi góc độ - anh ta có quyền nghĩ rằng sự suy xét của anh ta là tốt hơn sự suy xét của bất cứ ai khác hay bất cứ đám đông nào không trải qua một quá trình tương tự. Cũng không phải là quá đáng khi đòi hỏi những người minh triết nhất của loài người, cần phải tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy dành cho họ bằng cách đặt mình dưới sự tra vấn trước một tập hợp hỗn tạp bao gồm số ít những người minh triết và số đông các cá nhân kém trí tuệ, là cái tập hợp được gọi là dân chúng. p57
bản lưu từ tóm tắt 1 đến tóm tắt 3:
https://drive.google.com/file/d/0B3m4ZemQxIjQMVNKckpXaUlUMFU/view?usp=sharing
*.Một người có thể làm điều xấu cho người khác không chỉ bằng những hành động của mình mà còn bằng cả việc không hành động nữa, trong cả hai trường hợp anh ta đều phải chịu trách nhiệm với họ về tổn hại gây ra.
p47. Bàn về tự do tư tưởng, tự do thảo luận.
Hy vọng đã qua rồi cái thời cần phải bảo vệ quyền tự do báo chí như là một trong những bảo đảm an toàn chống lại nền cai trị tham nhũng và chuyên chế. Chúng ta có thể xem như bây giờ không cần thiết để đưa ra bất cứ luận cứ nào phản đối chính quyền hành pháp và lập pháp không đồng nhất về quyền lợi với dân chúng, nhưng lại có quyền gán ghép ý kiến của mình cho dân chúng và qui định cho họ học thuyết nào hay luận cứ nào họ được phép nghe. Bất cứ một chính phủ có trách nhiệm với dân chúng hay không mà lại thường xuyên mưu toan kiểm soát việc biểu lộ ý kiến, thì chính phủ đó sẽ tự biến mình thành một công cụ cho sự không dung thứ của công chúng. Vậy ta giả sử rằng: chính phủ với dân chúng là một chính phủ không bao giờ nghĩ đến việc dùng quyền lực để ép buộc (trừ khi sự ép buộc đó thuận theo tiếng nói của dân chúng). Nhưng tôi phủ nhận quyền của dân chúng thực hiện sự ép buộc đó, dù là họ đích thân thực hiện hay thông qua chính phủ của họ. Khi quyền đó được sử dụng theo công luận thì cũng là cái có hại hay thậm chí còn hại nhiều hơn là trường hợp đối lập với công luận. Nếu toàn thể nhân loại trừ ra một người đều cùng một ý kiến, và chỉ có một người có ý kiến trái lại, thì việc bắt người đó phải ngậm miệng (bỏ tù), nhân loại cũng không vẻ vang gì. Nhưng cái xấu xa của việc bắt một ý kiến không được trình bày là sự đánh cắp đối với loài người, với các thế hệ mai sau hay hiện nay, thiệt hại cho người bất đồng với ý kiến đó hơn là cho người giữ ý kiến đó. Nếu ý kiến đó là đúng thì người ta đã bị tước đi cơ hội bỏ cái sai lấy cái đúng, nếu ý kiến đó là sai thì có mất đi một cái lợi lớn là cảm nhận được cái đúng một cách minh triết và sống động hơn.
Cần phải xem xét riêng hai giả thiết này, mỗi cái có lý lẽ riêng phù hợp với nó. Chúng ta không bao giờ chắc chắn rằng cái ý kiến mà ta đang cố dập tắt là một ý kiến sai lầm; ngay nếu như chúng ta tin chắc đi nữa thì việc dập tắt nó vẫn là một điều xấu xa.
Thứ nhất, cái ý kiến đang bị quyền uy cố dập tắt đi có thể là đúng. Tất nhiên những người muốn dập tắt nó phủ nhận sự thật này nhưng họ đâu phải là thánh thần mà không hề sai bao giờ. Họ không có thẩm quyền quyết định cho toàn thể nhân loại và tước đi phương tiện xét đoán của bất cứ người nào. Khước từ lắng nghe một ý kiến vì họ tin chắc ý kiến đó là sai lầm, có nghĩa là coi sự tin chắc của họ là chắc chắn tuyệt đối. Mọi sự bịt miệng trong thảo luận đều hàm ý tính không bao giờ sai. Khốn khổ thay cho loài người là cái sự thật về tính có thể sai lầm lại thường xảy ra, hiện thời thì ai cũng biết rõ là mình có thể sai lầm, nhưng ít người chịu nghĩ là cần phải đề phòng tính có thể sai lầm của mình, hay thú nhận rằng bất cứ ý kiến nào mà họ cảm thấy rất chắc chắn lại có thể là một ví dụ về sự lầm lẫn.
Mỗi thời đại đều đã bảo vệ nhiều ý kiến mà các thời đại sau chẳng những coi là sai lầm mà còn coi là ngớ ngẩn nữa, và hẳn là nhiều ý kiến hiện nay được thừa nhận rộng rãi sẽ bị các thời đại tương lai bác bỏ. Việc ngăn cấm truyền bá những gì sai trái thì cái giả thiết không bao giờ sai là luôn luôn đúng ? Chẳng lẽ vì cớ nó có thể sai lầm mà bảo người ta không được làm ? Chẳng lẽ chúng ta có quyền ngăn cấm quyền được có thể sai lầm của người khác ? Giả sử như ta không bao giờ hành động theo ý kiến của ta, chỉ vì những ý kiến ấy có thể sai, thì ta phải bỏ hết mọi quyền lợi của ta để tự tìm ra cái đúng ? Nghĩa vụ của chính phủ và các cá nhân là hình thành các ý kiến chân thực nhất như họ có thể, hình thành các ý kiến một cách thận trọng, và không bao giờ áp đặt chúng cho người khác, ngoại trừ khi cảm thấy chắc chắn rằng họ đúng. Nhưng khi họ cảm thấy chắc chắn rồi (những người biện bạch có thể nói thế), mà chùn lại không hành động theo ý kiến của mình thì là hèn nhát, như thế tức là cho phép các học thuyết mà họ trung thực nghĩ rằng chúng nguy hiểm cho hạnh phúc của loài người, được lan truyền ra ngoài mà không bị kiềm chế, chỉ vì lẽ đã từng có những người khác, ở vào các thời buổi chưa được khai sáng, đã ngược đãi các ý kiến nay được tin là đúng. Con người và chính phủ phải hành động tốt nhất như có thể theo khả năng của họ. Chúng ta có thể và cần xem ý kiến của chúng ta là đúng để hướng dẫn hành vi của chúng ta: và chẳng có gì là ngạo mạn quá đáng khi chúng ta ngăn cấm những kẻ xấu làm hại xã hội bằng cách truyền bá những ý kiến mà chúng ta coi là sai lầm và có hại.
Tôi xin trả lời rằng : như thế là ngạo mán rất quá đáng. Một ý kiến được coi là đúng, khi mà trong mọi cơ hội thử thách, nó vẫn không bị bác bỏ. Sự tự do trọn vẹn trong việc phản bác lại ý kiến của chúng ta chính là điều kiện biện minh cho chúng ta trong việc xem mục tiêu hành động là chân lý; và không có điều kiện nào khác hơn để cho con người, với những khả năng giới hạn của mình, có thể có được sự đảm bảo rằng ý kiến mình là đúng. Đa số những người xuất chúng của bất cứ thế hệ nào trong quá khứ cũng đã bênh vực nhiều ý kiến mà ngày nay biết là sai lầm và họ cũng đã từng tán thành những việc mà ngày nay không một ai cho là đúng nữa. Vì vậy thì tại sao xét về toàn thể lại có ưu thế nghiêng về những ý kiến có lý? Phẩm chất tinh thần của loài người là một thực thể có trí tuệ và đạo đức. Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Những ý kiến và thực tiễn sai lầm dần dần tạo nên các sự kiện và luận cứ, tuy nhiên sự kiện và luận cứ trước hết phải được nêu ra mới có tác dụng lên trí tuệ được. Có rất ít các sự kiện tự thân nói lên được thực chất của chúng mà không cần bình luận để đưa ra được ý nghĩa của chúng. Sự suy xét của con người có một đặc tính: nó có thể cho điều này là đúng hay là sai trái, và chỉ khi nào nắm được các phương tiện xác định đúng sai trong tay thì sự suy xét mới đáng tin cậy. Trong trường hợp sự suy xét của ai đó thực sự đáng được tin cậy thì nguyên nhân là ở đâu? Đó là bởi anh ta luôn mở trí tuệ để đón nhận sự phê phán đối với các ý kiến và cung cách cư xử của mình. Đó là anh ta luôn lắng nghe tất cả những gì có thể nói ra chống lại anh ta; khai thác thật nhiều lợi ích từ việc đó và giải thích cho bản thân mình rõ, và nếu có dịp thì cho cả người khác. Đó là bởi anh ta cảm nhận thấy rằng, cách thức duy nhất để con người tiếp cận với tri thức về đối tượng xem xét, là lắng nghe những gì có thể nói về đối tượng đó bởi những người có ý kiến khác nhau và nghiên cứu mọi kiểu cách nhìn nhận đối tượng của những người có tính cách tinh thần khác nhau. Không có một người minh triết nào thu nhận được sự thông tuệ bằng bất cứ kiểu nào khác hơn thế, mà bản chất trí tuệ con người cũng không cho ai trở thành minh triết bằng một cách nào khác hơn được. Cái thói quen thường xuyên hiệu chỉnh và hoàn thiện ý kiến của mình bằng cách đối chiếu nó với ý kiến của những người khác tuyệt nhiên không phải là việc hoài nghi hay do dự khi thực hiện, mà chỉ là sự thiết lập cơ sở vững chắc duy nhất cho niềm tin vào nó: vì rằng: một khi đã biết được mọi điều có thể nói ra chống lại anh và giữ cho mình một lập trường xác định chống lại mọi phía phản bác - hiểu rằng mình đi tìm kiếm các phản đối và khó khăn chứ không lãng tránh chúng, và đã không che lấp ánh sáng soi rọi đối tượng từ mọi góc độ - anh ta có quyền nghĩ rằng sự suy xét của anh ta là tốt hơn sự suy xét của bất cứ ai khác hay bất cứ đám đông nào không trải qua một quá trình tương tự. Cũng không phải là quá đáng khi đòi hỏi những người minh triết nhất của loài người, cần phải tỏ ra xứng đáng với sự tin cậy dành cho họ bằng cách đặt mình dưới sự tra vấn trước một tập hợp hỗn tạp bao gồm số ít những người minh triết và số đông các cá nhân kém trí tuệ, là cái tập hợp được gọi là dân chúng. p57
bản lưu từ tóm tắt 1 đến tóm tắt 3:
https://drive.google.com/file/d/0B3m4ZemQxIjQMVNKckpXaUlUMFU/view?usp=sharing
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)