Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Vài bài viết về triết học hiện sinh (thhs)

Phi lý và sự tự sát
Chỉ có một vấn đề triết học thật sự nghiêm túc: đó là sự tự sát. Đánh giá cuộc đời đáng sống hoặc không đáng sống chính là trả lời cho vấn đề cơ bản của triết học. Những vấn đề còn lại, như thế giới có ba chiều hay không, linh hồn có chín hay mười hai loại, tất cả đều được xếp ở phía sau.
http://thuykhue.free.fr/mucluc/hiensinh.html
 triết học hiện sinh là tư tưởng chủ yếu của thế kỷ 20;triết học cổ điển của Tây phương , vũ trụ to quá con người bị bỏ quên, coi con người là một vật thể, coi con người là thế này thế kia, trong khi con người có thể thế này có thể thế kia, có thể là quỷ hay là thánh, tôi là một chủ thể tính và tôi là một nhân vị tự do, chủ thể tính và nhân vị tự do là 2 vấn đề chính của thhs,không coi con người là một sự vật của toàn thể vũ trụ, thhs coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy theo quan điểm của mỗi người, khi con người xác định được chủ thể tính của mình, con người nhận định rằng không sự vật gì có gì là tuyệt đối,con người hs là con người dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan với khả năng mình, tự do ở đây không phải tự do của thế giới tự do, tự do ở đây là tự do hiện sinh,tức là tự do bên trong, tự do lựa chọn , td quyết định, tự do dám làm mình,nếu tôi cứ sống như cái máy ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta làm sao mình làm vậy, thì tôi chỉ sống như một sinh vật chưa sống cái kiếp người, cuộc sống ù lì đó sống chỉ để sinh tồn như cây cỏ đó gọi là buồn nôn, tầm thường,phi lý, để thoát khỏi cuộc sống buồn nôn, tầm thường pi lý đó con người phải vượt lên chính mình, phải phải sống độc đáo , một chủ thể độc đáo: tự chọn một lối sống riêng không bắt chước người khác và chịu sự kìm chế và sai bảo của người khác , nhân vị và tự do là nội dung của hiện sinh, chúng ta chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật 1711thuykhue
Nietzsche Phê bình luân lý cổ truyền & thuyết siêu nhân: Không thể có chân lý trừu tượng, cltt là cái người ta dạy lại ta chấp nhận mà ta không xem lại, nó lạnh lừng như xác chết và không có ích cho cuộc hiện sinh, chỉ có chân lý cụ thể
Luân lý chủ ông: luân lý của giai cấp thống trị, quí tộc có bản tính ngang tàng kiêu hãnh, llco xây dựng trên lòng tự tín, tự đại, của kẻ hào hùng
Luân lý nô lệ : người nô lệ bị đàn áp yếu hèn nên họ lập ra đức nhẫn nại, khiêm tốn,từ bi là đức của người bất lực, Nietzsche khinh bỉ tôn giáo, tg là sản phẩm của kẻ bệnh tật hèn yếu không có can đảm để đấu tranh để sống cuộc hiện sinh ở đời này, nên mới tạo ra các giá trị yếm thế chối bỏ cuộc hiện sinh để mưu cầu cuộc sống hạnh phúc ở đời sau. tôi là xác và hồn có khi tôi chỉ là thân xác mà thôi, thuyết lý người hùng đả phá các học thuyết không giúp cho con người phát huy hết khả năng vô tận của cuộc hiện sinh ... siêu nhân là người hoàn toàn tự chủ, không lệ thuộc vào thói tục do luân lý cổ truyền tạo nên để nô lệ hóa con người, hãy luôn luôn trở nên là chính mình, hãy là ông chủ người điêu khắc để tạo nên chính mình, đừng nhắm mắt làm nô lệ kẻ khác, đừng để bảo sao nghe vậy ,phải có ý tự quyết, tự chọn con người phải tự vượt mình, quần chúng tuy đông về số nhưng không có ai là người hết, quần chúng chỉ là những cái miệng để hoan hô đả đảo, những tay lãnh đạo bảo hoan hô thì họ hoan hô bảo đả đảo thì họ đả đảo ngay, qc thật là cái máy khổng lồ và vô hồn, ai muốn sống cuộc hiện sinh phải thoát ra ngoài cuộc sống vô hồn ấy, sống phải sáng tạo, phải dám nghĩ những cái chưa ai dám suy nghĩ , phải tự giác và tự giải thoát, chẳng có nô lệ nhục nhã nào bằng nô lệ tinh thần, kể cả nô lệ người thầy, ông thầy dạy ta làm người không phải dạy ta làm học sinh suốt đời, phải xa ta ra, chống lại ta biết đâu ta chẳng phải là một kẻ bịp bợm, hãy coi chừng đừng để cho thần tượng đè chết. Con người phải bước qua thượng đế,thánh hiền,thần tượng, Nietzsche, bước qua chính mình mà đi.
đoc Nietzsche ta thấy hổ thẹn thói ươn hèn của tư tưởng ta,ta thấy hổ thẹn vì thái độ nô lệ và thụ động ta,ta chưa vươn tới mức làm người tự do,ta thấy ta như lũ trẻ con, ngày ngày nhai đi nhai lại những lời lẽ của thánh hiền coi đó là nhưng bùa hộ mệnh tưởng chừng như những lời kinh hoa mỹ kia có phép mầu để giải quyết cuộc nhân sinh của ta ,mà ta không biết rằng ỷ lại như thế là sống thân nô lệ.Nietzsche viết: anh đã đi từ giun lên làm người nhưng vẫn còn rất nhiều giun dế trong anh, xưa kia anh là khỉ và ngày nay loài người còn khỉ hơn cả bất cứ con khỉ nào 24112001thuykhue
http://hoangphongtuan.wordpress.com/2012/06/30/nguoi-yeu-toi-hay-hinh-anh-nguoi-yeu-trong-noi-nho-cua-toi-la-co-thuc-hay-la-quan-niem-ve-hien-tuong-hoc-cua-husserl/

NGƯỜI YÊU TÔI hay HÌNH ẢNH NGƯỜI YÊU
TRONG NỖI NHỚ CỦA TÔI là có thực?
Husserl đặt ra một câu hỏi cổ xưa nhưng cơ bản: anh KHÔNG PHẢI là người yêu anh, sao anh biết người yêu anh có thực (có thực --> có nhận thức được cô ta hay không)? Ta không phải là sự vật, sự vật cũng không phải là ta, sao ta biết rằng sự vật có thực?

Vậy, KHÔNG PHẢI NỖI NHỚ CỦA ANH VỀ NGƯỜI YÊU LÀ CÓ THỰC cũng KHÔNG PHẢI MỘT CÔ GÁI NÀO ĐÓ ĐƯỢC XEM LÀ NGƯỜI YÊU ANH LÀ CÓ THỰC, mà CHÍNH HÌNH ẢNH VỀ CÔ GÁI NÀO ĐÓ HIỆN LÊN TRONG TÂM TRÍ ANH LÀ CÓ THỰC mà thôi, bất chấp ĐÓ CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI YÊU ANH HAY KHÔNG! 

Quyền riêng tư của lãnh đạo đến đâu?

Trong một tháng trở lại đây, cả thế giới xôn xao với vụ bê bối tình ái của tổng thống Pháp, ông Francois Hollande.Sự việc này gợi ra một câu hỏi thú vị: quyền riêng tư của lãnh đạo giới hạn đến đâu?
Dưới các triều đại phong kiến, một nguyên tắc phổ quát được áp dụng hầu như ở mọi nơi: lãnh đạo tối cao có quyền riêng tư tuyệt đối, không ai được phép “phạm thượng.” Tên vua không được nhắc, mặt chúa không được nhìn.

Điều này thay đổi nhanh chóng khi thế giới chuyển sang thời hiện đại. Tuy vậy, lần này thì không có một nguyên tắc chung nào nữa.
Báo chí Anh hiện cũng đang xoáy sâu vào vụ nguyên thủ lĩnh Đảng Dân Chủ Tự Do của Anh, Thượng nghị sĩ Christopher Rennard, bị cáo buộc quấy rối tình dục với các nhân viên nữ dưới quyền. Mặc dù không có chứng cứ cụ thể và chỉ dựa vào lời khai của nữ bị hại, sự nghiệp chính trị của ông này coi như đã chấm dứt. Xa hơn một chút, scandal tình ái với nữ thực tập sinh Monica Lewinsky cũng khiến cho cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton suýt phải từ chức
Dẫu người Pháp có nói “Việc công dừng lại ở cửa buồng ngủ,” một điều dễ nhận thấy rằng đã làm người của công chúng thì hầu như không còn khái niệm “quyền riêng tư” nữa. Người dân có quyền được biết mọi mặt trong đời sống của lãnh đạo, qua đó để quyết định xem liệu họ có làm đúng chức trách và bổn phận của mình, có lạm dụng quyền lực để phục vụ lợi ích bản thân, hay có đủ “tư cách đạo đức” để đứng đầu quốc gia hay không.
 Điều này buộc các lãnh đạo phương Tây, và cả gia đình của họ, phải “sống đàng hoàng,” bởi nhất cử nhất động đều được công chúng chú tâm theo dõi.

Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia châu Á, có vẻ như quyền riêng tư của lãnh đạo là bất khả xâm phạm. Bất cứ hành động nào đả động đến những người đứng đầu sẽ bị phản ứng rất mạnh mẽ, nhiều khi đi kèm với hình phạt nặng.
Hầu như chưa có tờ báo nào đưa tin scandal của lãnh đạo ở Châu Âu hay Mỹ mà bị “trừng trị thích đáng.”
Điều này thực hiện được là bởi tự do báo chí được pháp luật các nước này bảo vệ rất nghiêm ngặt. Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được quy định ngay tại Tu Chính số 1 của Hiến Pháp Mỹ, gần như là bất khả xâm phạm. “Dựa hơi” từ luật pháp, cộng với văn hóa chính trị cởi mở, báo chí được coi là quyền lực thứ tư trong xã hội phương Tây.
Ai cũng muốn đời tư của mình được tôn trọng, nhưng có lẽ khi gánh trên vai vận mệnh một quốc gia, các lãnh đạo phải chấp nhận một cuộc sống minh bạch hơn.

Điều đó tốt cho cả họ lẫn công chúng: nếu lãnh đạo không làm điều gì sai trái, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân sẽ tăng lên và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng hơn.

Nếu lãnh đạo làm sai, công chúng có quyền được biết, phản ứng, và đưa ra những “hình phạt” của mình. Bởi lãnh đạo không chỉ là quyền, mà còn là nghĩa vụ.

Để có được sự minh bạch của lãnh đạo, điều kiện cần là báo chí phải được “cởi trói” để thực hiện đúng bổn phận cung cấp thông tin cho quần chúng.

Karl Marx, người từng được cho là cổ vũ cho báo chí định hướng, đã nói rằng tự do báo chí là điều kiện bắt buộc ở mọi xã hội bởi nó cho thấy sự hiện diện tích cực của tự do.
Khi còn là một nhà báo ở Đức, ông từng bị bắt giữ nhiều lần do chỉ trích chính quyền và hoàng gia Phổ (Prussia), cuối cùng bị trục xuất và phải sống lưu vong ở London, nơi ông hoàn thành bộ “Tư bản” nổi tiếng.

Trang Tử tinh hoa

Những tư tưởng của người đời phần đông ưa thích nhất là những tư tưởng thỏa được lòng dục vọng của họ. Người ta, ít có ai biết cần đến sự thật để sống. Cái gì trái với lòng ao ước của họ là họ bác ngay trước khi xem xét coi nó có đúng với sự thật hay không? Đã chẳng những bác ngay mà lại còn xem như thù địch. Những tư tưởng ủy mị, xu nịnh, vừa theo dục vọng của quần chúng sẽ được họ tôn thờ như một cái gì "thiêng liêng bất khả xâm phạm". Thiên hạ rùng rùng nghe theo và xem đó như một chân lý tuyệt đối, trong khi nó chỉ là một thõa mãn của dục vọng nhất thời thôi.
Một nhà xã hội học hiện đại tây phương có viết: "Phần đông quần chúng không bao giờ biết khao khát sự thật. Trước những sự thật hiển nhiên mà không vừa lòng họ, họ không thèm đoái hoài đến, mà trái lại họ chịu tôn thần thánh sự dối trá lạc lầm, nếu sự dối trá lạc lầm ấy khéo làm vừa lòng họ. Kẻ nào khéo ảo hoặc họ sẽ làm chủ họ được ngay rất dễ dàng; trái lại, kẻ nào tìm cách phá tan ảo vọng của họ, sẽ bị họ tru diệt không sai" Je'sus bị treo lên cây thập giá, Scorate bị bắt uống độc dược... phải chăng đều là vì muốn làm cho thiên hạ tỉnh ngộ
Óc bè đảng của con người cũng từ đó mà ra. Phàm những gì thuộc về bè đảng mình đều được xem là hay là đẹp. Không cần biết cái điều mình tin tưởng và cho là phải ấy, có thật phải, có thật đúng làm chi (gì) : hễ giống với mình thì cho là phải, không giống với mình thì cho là quấy. "Thiên hạ đều biết tìm cái mà mình không biết mà chẳng ai biết tìm cái mà mình đã biết; điều biết chê cái mà mình cho là không phải, mà chẳng ai biết chê cái mà mình đã cho là phải" (Khứ Cự 1). Hễ cùng một bè phái, cùng một quốc gia hay cùng một dân tộc, đều là phải cả, dẫu có sai lầm đến đâu cũng nhắm mắt bị tai, bỏ qua tha thứ. Tại sao ? "Con người ở đời, đều thích người ta đồng với mình, mà rất ghét người ta khác với mình" (Tề vật luận).
Ôi! "Hạng thật mê, suốt đời không tỉnh. Hạng thật ngu, suốt đời không khôn. Ba người cùng đi mà có một người mê, thì chỗ mình định nói đến còn có thể mong đạt tới được, là vì kẻ mê ít mà người tỉnh nhiều. Nếu ba người đi mà có tới hai người mê, thì chỗ mình định nói đến không thể mong đạt tới được, là vì người mê nhiều mà người tỉnh ít. Nay cả thiên hạ đều mê, ta dẫu có muốn chỉ đường cũng không thể được. Chẳng cũng xót xa lắm sao! Tiếng hát hay không sao lọt vào tai bọn dân quê: hát líu lo bậy bạ vậy, mà chúng náo nức vui cười !// dân ca Nghệ An thuộc thể loại này // Thế nên, lời nói cao không thể vào được nơi lòng chúng nhân. Lời hay không thể nói ra được là vì : lời thô rất nhiều, đầy lấp thiên hạ và được thế lực bè đảng ủng hộ. Lấy hai cái chình bằng đất, đánh to lên, thì nó lấp cả tiếng chuông đồng; vậy, cái chỗ mình định nói đến làm sao đạt tới cho được... Biết là sự chẳng có thể được mà gượng làm, đó lại còn mê hơn thiên hạ nữa. Cho nên, thà là bỏ đó mà chẳng suy cầu đến làm gì còn hơn..." (Thiên Địa)

Trích Trang Tử tinh hoa - Thu Giang (Nguyễn Duy Cần) Nhà xuất bản trẻ

Tính cách dân tộc Việt qua truyện trạng

Hệ thống truyện trạng Việt Nam bao gồm các bộ phận truyện Trạng Quỳnh, truyện Xiển Bột, truyện Nguyễn Kinh, truyện Thủ Thiệm, truyện Ông Ó, truyện Khun Hón (dân tộc Thái), truyện Lật Đời (dân tộc Chăm),... Qua nhiều thế hệ, chúng luôn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc (nghe).
1. Sự thông minh, tài trí của các nhân vật trạng do nhân dân bao đời sáng tạo nên, nhằm phản ánh khát vọng về người tài giỏi có thể làm xã hội trở nên công bằng, conngười sống trong môi trường lành mạnh, lẽ phải được xiển dương, áp bức bị lên án và đánh bại. Do việc sáng tạo của văn học dân gian mang tính tự phát, tính cộng đồng, không phải bằng sự thông thái kèm ý thức chủ quan và cá tính mạnh mẽ như của các nhà văn, nên có thể tìm thấy mối quan hệ nhất định giữa tính cách của các nhân vật được un đúc, tô bồi, với tính cách của cộng đồng sáng tạo nên các nhân vật ấy. Nói rõ hơn: tính cách của nhân vật trạng có sự tương đồng nhất định với tính cách dân tộc.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trong bài “Thói nguỵ biện của người Việt”, viết: “Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại (mà chúng ta cho là “thông minh”) giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẻnhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận” (1). Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bài “Lạm bàn về thơ Việt hôm nay”, viết: “Đành rằng chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc có ý nghĩa to lớn trong dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên trong hàng ngàn, hàng vạn năm không có chiến tranh, trận mạc, lúc đó lòng yêu nước trở thành “viên ngọc quý, được cất giữ trong rương trong hòm”, thì cái mà người Việt vẫn dựa vào để tồn tại vững vàng qua mỗi ngày lại là nhân cách Việt. Đó là tất cả những giá trị giúp con người tồn tại như một nhân cách xứng đáng, trong khuôn khổ cộng đồng Việt, tạm gọi là nhân cách Việt. [...] Theo nghĩa đó, có thể xem truyện Trạng Quỳnh là biểu tượng về nhân cách Việt, hơn là tinh thần phản phong và chống ngoại xâm như ta thường giải thích”(2).
Hai trích dẫn vừa ghi có một nhìn nhận chung (tạm không bàn đến các nội dung ngoài việc nhìn nhận này): sự ứng xử của Trạng Quỳnh được xem là biểu tượng “của sự thâm thúy, thông minh” hay “về nhân cách”của dân tộc, hiện được mọi người đem ra ứng dụng. Đây là vấn đề mà bài viết đang đặt ra.
Khái niệm nhân cách thường được hiểu như một khía cạnh thiên về giá trị hay sự định giá về mặt đạo đức của tính cách. Bên cạnh đó, cũng có thể mở rộng phạm vi của “nhân vật Trạng Quỳnh”, thành các nhân vật trạng của tổng thể truyện trạng Việt Nam – sở dĩ cần sự mở rộng này vì các nhân vật trạng trong tổng thể truyện trạng Việt Nam ở nhiều vùng miền của đất nước, đều có quan hệ gắn bó với nhau thành một thể thống nhất, và nhìn chung, họ có cùng một tính cách. Bấy giờ, sẽ nảy sinh vấn đề: trong tính cách của các trạng, được cho là biểu tượng của tính cách dân tộc ấy, có những ưu, nhược điểm gì? Vấn đề cần được xem xét, bởi ngoài yêu cầu về nội dung mà việc tìm hiểu truyện trạng phải nắm bắt, còn là vấn đề thuộc lĩnh vực con người, nhân tố chính làm nên cục diện của đất nước.
2. Các nghiên cứu về truyện trạng thường nói nhiều đến mặt đấu tranh xã hội của nhân vật trạng. Trong một tìm hiểu của người viết về vấn đề, qua 371 mẩu truyện của 27 bộ phận truyện trạng Việt Nam, thì cụ thể về mặt đấu tranh này được chia làm ba lĩnh vực như sau: a)Truyện trạng chống lại sự gian tham, tàn ác của tầng lớp hào lí, quan lại, vua chúa (229 truyện, chiếm 61,7%); b) Truyện trạng trừ khử các thói hư tật xấu của người dân thường (114 truyện, chiếm 30,7%); c) Truyện trạng bài xích quỷ thần, người phụng sự quỷ thần (28 truyện, chiếm 7,5%). Nhìn chung, đó là sự đấu tranh vì tiến bộ xã hội. Có thể nói, ba nội dung vừa nêu đồng thời cũng là ưu điểm của truyện trạng, của nhân vật trạng.
Bên cạnh ưu điểm lớn vừa nêu, cũng cần trình bày một số nhược điểm, hạn chế hiện chưa thấy các nghiên cứu về truyện trạng đề cập. Đó là:
+ Nhân vật trạng sử dụng mưu kế, tức “bày binh bố trận”, quyết hạ bệ hay thuyết phục bằng được đối phương, và luôn thành công. Chúng ta không khó nhận ra, đây là cuộc đọ sức thiếu sòng phẳng, công khai, bởi một bên được chuẩn bị chu đáo, bên kia bị đánh úp bất ngờ. Nói rõ hơn, trạng đã sử dụng một phương tiện không công bằng, trong đó phần lợi nghiêng về phía mình. Nó tương tự với lối đánh mai phục hay phục kích (ém sẵn người, vũ khí ở một địa thế phù hợp, để bất ngờ tấn công khi đối phương sa vào trận địa đã chuẩn bị ấy), thường gặp ở các đội quân nhỏ lẻ, khi tổ chức chiến đấu chống lại một lực lượng đối lập mạnh hơn.
Điều vừa nói được thể hiện ngay trong chính mô hình (mô hình cấu trúc ngôn ngữ văn bản), đồng thời là kết cấu, cốt truyện gồm bốn phần (hay bốn bước) của thể loại này: 1) Tạo mâu thuẫn giữa nhân vật trạng và nhân vật là đối tượng mà trạng cần chiến thắng (theo lối hạ bệ, thuyết phục) – bước thắt nút haykhai đoan; 2) Nhân vật trạng tiến hành các phần việc theo mưu kế của mình, để tấn công đối tượng – bước phát triển; 3) Mưu kế được thực hiện trọn vẹn, nhân vật trạng chiến thắng, đối tượng của nhân vật trạng bị hạ bệ hay thuyết phục – bước đỉnh điểm, cao trào; 4) Nhân vật trạng hả hê, đối tượng của nhân vật trạng ê đòn (có khi, bước này nhằm giải thích cho bước trước) – bước mở nút, kết thúc.
Trên đại thể, mô hình ấy đã phân định: phía nhân vật là đối tượng của trạng, đó là kẻ gian ác, sai bậy (nhân vật phản diện); phía nhân vật trạng, là người chống lại cái ác, bảo vệ lẽ phải, nhưng đang ở vào thế yếu (như người dân thường mà chống lại quan chức, quan nhỏ chống lại quan to,...), hoặc phải tự vệ chính đáng (nhân vật chính diện). Ngoài ra, có một điều quan trọng khác bổ sung cho sự hợp lẽ ở phía nhân vật trạng nữa, là việc làm của trạng không nhằm mang lại lợi lộc hay để vinh thân phì gia, mà vì cộng đồng, vì tôn trọng các chuẩn mực chung (về trí tuệ, đạo đức,...) (3).
Như vậy, đã có thể nói, truyện trạng, ở bình diện kết cấu hình tượng nghệ thuật, cái để tạo nên thông điệp cho tác phẩm, đã thể hiện một quan niệm ngầm ẩn: lấy mục đích biện minh cho phương tiện (4) (trạng đã vin vào mục đích chính đáng để biện minh cho phương tiện không được tử tế, sòng phẳng của mình). Đây là một quan niệm chỉ có thể chấp nhận trong một số trường hợp đặc biệt, bởi còn phải xem xét mức độ, phạm vi của mục đích cùng phương tiện sử dụng tương ứng, và hoàn cảnh của sự việc liên quan.
Có không ít phương tiện xấu đã làm lu mờ mục đích tốt đẹp. Chẳng hạn, truyện “Bà huyện đái dầm” (truyện Ba Giai) kể việc Ba Giai đột nhập vào thuyền của vợ chồng viên huyện Gà đang nghỉ ngơi bên bờ sông. Do có quen biết, nên ông được mời ăn uống cùng họ. Ăn xong, vờ lăn ra ngủ. Gần sáng, Ba Giai múc nước đổ từ chỗ bà huyện nằm đến chỗ mình, rồi lu loa lên là bà huyện đái dầm, ướt cả áo quần. Huyện Gà đành phải đền cho ông bộ đồ lụa tơ tằm mới, bộ đồ bị ướt kia cũng cho giặt và hứa mang đến trả tận nhà, lại biếu mấy quan tiền để đi ăn sáng. Đành rằng, tên huyện Gà (kẻ làm tay sai cho thực dân Pháp) rất đáng bị trừng trị, nhưng cách làm của Ba Giai không đàng hoàng, chỉ như một sự quậy phá, thậm chí, có phần giống với lối nằm vạ để kiếm chác của kẻ bất lương.
Trường hợp đối tượng của nhân vật trạng là người yếu thế, thì chính trạng đã ỷ giỏi cậy khôn để bức hiếp người. Đọc hai mẩu truyện sau (một thuộc truyện Ba Giai, một thuộc truyện Thủ Thiệm):
(a) BỞI VÌ ĐÔI DÉP
Hôm ấy, Ba Giai đang ngồi tán ngẫu với bạn bè, bỗng nghe có tiếng lợn kêu eng éc bên hàng xóm. Ông chạy ra xem, thì biết anh đồ tể ở làng xa đang mặc cả mua lợn của nhà ấy. Ông nói với mọi người:
- Cái thằng chết đâm chết chém nào lại muốn đến ngay cạnh nhà mình mà mua lợn, mua gà, khiến đinh tai nhức óc, chẳng còn ai trò chuyện gì được với chúng. Tức cha chả là tức!
Đám bạn nhao nhao, yêu cầu Ba Giai cho hắn một vố, để chừa cái thói táo tợn, giỡn mặt Ba Giai đi. Ông đồng ý, bảo mọi người cứ đợi xem.
Thấy anh đồ tể quảy lợn đi, Ba Giai vào trong lấy đôi dép mới toanh, cuộn chúng trong chiếc võng rách, rồi cắm cổ đi.
Con đường từ nhà Ba Giai ra đường cái uốn lượn quanh co, lại lắm cây cối rậm rạp. Ba Giai đi theo đường tắt, tới chỗ miếu gốc đa là nơi cây cối um tùm nhất, lôi đôi dép ra, vứt vào hai nhánh của khúc quẹo, cách nhau vài chục bước, đoạn nấp vào bụi cây chờ.
Lát sau, anh đồ tể khệ nệ quẩy lợn tới, nhìn thấy chiếc dép mới liền dừng chân ngắm nghía. Bụng định nhặt nhưng lại thôi, vì nghĩ chỉ có một chiếc thì dẫu mới cũng chẳng được trò trống gì. Nhưng đến bên kia khúc quẹo anh ta lại thấy một chiếc dép nữa, đồng bộ với chiếc trước. Anh đồ tể đặt con lợn trên vai xuống nhặt chiếc dép, rồi đi ngược lại chỗ trước để nhặt chiếc kia cho đủ đôi. Ba Giai chỉ đợi có thế. Ông nhảy xổ ra, tháo đòn khiên, bọc con lợn vào cái võng, vác nó lên vai, rồi chạy thật nhanh. Nhưng không phải ông chạy về nhà mình mà đến chỗ Tú Xuất.
Giao con lợn cho Tú Xuất xong, Ba Giai quay lại nhà mình. Ông thấy anh đồ tể nọ đang than vãn với nhà hàng xóm về chuyện mất lợn, và ngỏ lời muốn mua con khác, để không phải nghỉ phiên chợ. Đến khi anh ta mua xong, xốc lợn quảy đi, thì Ba Giai cũng vội vã chạy ra cổng. Đến chỗ bỏ dép ban nãy, ông nấp vào một bụi rậm.
Anh đồ tể khệ nệ tới. Chờ anh ta qua khỏi mình độ mươi bước, Ba Giai mới bịt miệng giả làm tiếng lợn kêu. Anh đồ tể chỏng tai: quả có tiếng lợn thật. Anh ta vội vã vứt đôi dép và quẳng con lợn trên vai xuống đường, chạy hộc vào bụi xăm xoi tìm kiếm. Ba Giai lách bụi chui ra, vác luôn con lợn lên vai, không quên nhặt lại cả đôi dép mới của mình, co giò chạy.
Sau một hồi chui lủi ở các bụi rậm để tìm kiếm không thành, anh đồ tể đành trở ra đường cũ, thì ôi thôi, cả con lợn và đôi dép không cánh mà bay! Anh ta kêu khóc, nguyền rủa kẻ cắp chán chê rồi vác cái đòn không lủi thủi ra về.(5)
(b) MẶC LỘN QUẦN NGƯỜI TA MÀ CÒN HÀM HỒ
Một người phụ nữ còn trẻ, vốn là chỗ bạn buôn mắm lâu nay của vợ Thủ Thiệm, cậy có chút nhan sắc nên rất vênh váo. Hôm ấy, do bán ế, trời thì đã chạng vạng, cô ta khó thể về nhà, bà Thủ thân tình mời về nhà, cho cô bạn ở tạm qua đêm. Thấy người phụ nữ trẻ này ra tuồng hợm mình, nói năng lại không được lễ phép, Thủ Thiệm ghét lắm.
Đến khuya, đợi cô ta ngủ say, Thiệm lấy một ngọn lá chuối đang còn ấp cọng, giả làm rắn, nhẹ nhàng luồn vào ống quần cô nàng. Thấy có vật gì bò lành lạnh, nhồn nhột trong quần, người phụ nữ giật mình thức dậy. Thần hồn nát thần tính, cô ta tưởng là rắn thật, vội vã chụp ngay lấy chỗ ống quần có con rắn đang bò, một tay giữ chặt lấy con rắn trong quần, một tay tụt vội quần ném ra xa. Thiệm chụp lấy cái quần của cô ả đem đi, và bỏ vào cạnh giường ả nằm cái quần của mình.
Hồi lâu, người phụ nữ thấy yên, nghĩ là con rắn chắc đã bò đi, mới lần mò tìm lại cái quần mặc vào, rồi yên tâm lên giường ngủ tiếp.
Trời mới hừng sáng, Thiệm mò tới giường cô ả, không chút e dè, đưa tay rờ rẫm, xoa bóp khắp người. Choàng tỉnh, cô ta hốt hoảng la lên. Thiệm cũng gân cổ la làng…
Tức nhiên, bà Thủ chạy tới trước tiên, kế đó là mấy người hàng xóm. Ai cũng nghĩ, chắc ông Thủ sinh tật.
Người phụ nữ ra sức phân bua:
- Chị Thủ và bà con coi, tui đang ngủ ngon, ông ni mò vô rờ mó tứ tung, thiệt là già dê…
Thủ Thiệm cũng giãi bày:
- Bà con nghĩ coi, cô ni thích ăn vụng mà cũng ưa làm bộ đoan trang. Ai đời, mặc lộn quần người ta mà còn hàm hồ, la lối. Thôi mau trả quần cho tui, quần của cô ở dưới chân giường kia kìa!
Người phụ nữ kênh kiệu nhìn xuống, quả nhiên quần của mình đang nằm ngay phía dưới chân giường, còn cái đang mặc là quần đàn ông rất rộng. Xấu hổ quá, cô ta chụp vội cái quần của mình chạy vào buồng trong.(6)
Ở (a), Ba Giai đã dùng mưu mẹo để cướp lấy hai con lợn của anh hàng thịt, trong lúc anh này chẳng làm điều gì đáng tội với mọi người, và với bản thân ông. Có thể thấy, việc đổ tội cho người mua do lợn kêu ồn khi bị bắt bỏ rọ, là tuỳ tiện, việc nhặt của rơi giữa đường cũng không có gì là sai trái. Hay vì anh này là đồ tể, nghề bị cho là không mấy lương thiện, khiến Ba Giai bất bình đến phải ra tay? Lí do để gỡ cái tội tước đoạt của cải người khác may ra được tìm thấy ít nhiều ở đó. Ở (b), Thủ Thiệm ghét người phụ nữ có nhan sắc mà vênh váo. Nhưng từ cái ghét thường tình kia đến việc “rờ rẫm, xoa bóp” lại còn đổ tội dâm ô lên người ta, thì đã không còn bình thường nữa, mà phạm tội: tội quấy rối tình dục, tội lăng nhục người khác. Ta thấy, tuy mục đích của các trạng là tốt hay có phần tốt (làm cho kẻ ít có thiên lương phải thua thiệt mà chùn tay, và kiếm lợn để thịt chiêu đãi bạn bè, hay trị thói hợm mình, vênh váo để người ta tốt lên), nhưng phương tiện thì tệ hại, đến mức không thể chấp nhận. Vả lại, hai nhân vật mà các trạng tước đoạt hay xúc phạm đều ở vào vị thế yếu, nên việc làm của trạng đáng bị chê trách, và nội dung truyện đã có phần phản cảm, phản tác dụng.
+ Do yêu cầu đề cao trí tuệ và phải chiến thắng đối phương mà nhân vật trạng trở nên khô khan, thuần lí, gần như thiếu hẳn yếu tố tình yêu và lòng nhân ái. Truyện Xiêng Miệng (Lào), loại truyện tương tự với truyện trạng Việt Nam, có mẩu truyện cuối “Tuỳ ý chú”, kể việc Xiêng Miệng đi nhờ thuyền của một chú tiểu. Ông ngồi ỳ không chịu chèo giúp, lại nói “Cho lên ở đâu là tuỳ ý chú!”. Chú tiểu dựa vào lời nói hớ ấy để đẩy Xiêng Miệng xuống một vạt rừng gai mây hoang vắng (nơi đã vào thì khó thể thoát ra). Trước khi dùng mái chèo xua Xiêng Miệng ra khỏi thuyền, chú tiểu nói: “Xiêng Miệng, anh đã biết thế nào là trí khôn của con người chưa? Anh tưởng anh đánh lừa được người khác mà không bị người khác xỏ lại anh hay sao? Anh thông minh nhưng thiếu tình thương, và bây giờ thì anh cứ ở đây chờ khi nào có ai thương tình thì nhờ người đó cứu!” (7).
Thật ra, “thiếu tình thương” cũng là một đặc điểm trong tính cách của các nhân vật trạng, nói chung.
Ở đây, có thể nảy sinh một phản bác, rằng trạng đã đấu tranh chống các thế lực áp bức xã hội, loại bỏ những thói xấu ở một số cá nhân, hòng đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người, điều đó không phải tình thương, thì là gì? Vâng, đó là tình thương. Trên thế giới, có không ít thể chế, đảng phái chính trị, cả một số tôn giáo nữa, cũng đề ra mục đích, nhiệm vụ đấu tranh của tổ chức mình như thế, và cho một phần kết quả đạt được để nhận sự ủng hộ của cộng đồng chính là tình thương. Điều cần phân định trong trường hợp này là, cái tình thương từ việc đấu tranh làm cho xã hội tốt đẹp theo lối của một tổ chức, khác biệt với tình thương là một yếu tố trong tính cách của một con người hay một nhân vật trong truyện kể. Cũng có thể nói, có hai thứ tình thương: tình thương là thuộc tính của một con người; và tình thương là mục đích của một tổ chức đấu tranh cho sự công bằng và tiến bộ xã hội. Theo đó, thì nhân vật trạng không có loại tình thương đầu. Vì cá thể người hay nhân vật truyện có thất tình lục dục, nên cũng có một tình thương cụ thể mang chất người, chứ không phải thứ tình thương trừu tượng, vượt ra ngoài phạm vi của một con người; do đó, ở bình diện đang bàn, có thể nói, nhân vật trạng không có tình thương.
+ Có một số trường hợp, trạng hành xử theo lời thách đố, thường có thưởng (tiền bạc, cuộc rượu,...) của người khác, như “Dằn mặt chú khách” (truyện Tú Xuất),“Đây là của chú!” (truyện Mân Nhuỵ), “Nhờ nước giếng mát quá mà sáng mắt” (truyện Nguyễn Tuyn), “Vuốt râu hùm” (truyện Thủ Thiệm), “Ông khách không mời” (truyện Học Hoàng), “Trị bệnh trứng trắng” (truyện Bợm Bảy), “Sợ bay mất mấy con chim”, “Anh Ba Tiền chết đâm” (hai mẩu thuộc truyện Ba Giai),“Mua bút”, “Đổ ruốc vào bàn tay” (hai mẩu thuộc truyện Phủ Tuấn),... Sự thành công trước các thách thức gay cấn nói lên tài cán của trạng; đồng thời, ở nhóm truyện này, cũng dễ dàng nhận ra sự háu thắng, có khi bất chấp sĩ diện của nhân vật này.
Bên cạnh đó, một số truyện khác lại cho thấy, để kiếm ăn, trạng giở đủ ngón nghề, và nhằm vào người dân thường. Sự việc này xuất hiện nhiều ở bộ phận truyện Tú Xuất: “Con trong cối, mẹ giữ chày”, “Để mất bạc của khách, chủ quán trọ phải đền”, “Của cô mày tròn hay méo?”, “Vịt đẻ năm trứng một đêm”, “Bùa cầu tài”,... Truyện đầu kể việc Tú Xuất giả làm pháp sư kiêm thầy thuốc đến chữa bệnh cho một cậu bé, con của một người đàn bà goá. Ông bảo bà mẹ sắc thuốc nam với hai nén bạc, lại bảo bà nhấn chân giữ chỗ đầu chày để đầu kia ngỏng lên, có chỗ mà đặt đứa trẻ vào cối (loại cối đạp), để ông làm phép. Khi bà chủ nhà bị “khoá phép” như thế, ông lấy hai nén bạc lỉnh đi.
Các truyện này cho thấy, trạng đã phải dùng đến hạ sách, là lừa dối để có cái ăn hay kiếm tiền sống qua ngày. Do trong tình trạng quẫn bách (cái đói) người ngoài cuộc có thể thông cảm. Nhưng với người bị hại thì khó tránh khỏi điều chê trách, thậm chí cho trạng là trí trá, lừa đảo. Bấy giờ điều gọi là thuyết phục ở nhân vật trạng bị hạ thấp. Việc gọi đích danh trạng là “bợm”, là “láo” (truyện Bợm Bảy, truyện Anh Láo, người Việt), là “thằng” (truyện Thằng Cuội, người Mường),… cũng phản ánh một cách nhìn nhận của dân gian, chủ thể đã sáng tạo ra các nhân vật trạng. Sự nhìn nhận này có thể xuất phát từ những truyện như thế.
3. Từ việc trình bày trên, có thể nói: khi cho tính cách nhân vật trạng là biểu tượng về tính cách của dân tộc, thì điều quan trọng hàng đầu, là không nên coi tính cách ấy là hoàn toàn tốt đẹp và đã định hình, để cứ thế mà làm theo. Bởi như chúng ta đã thấy, trong tính cách của nhân vật trạng có nhiều ưu điểm, nhiều yếu tố tích cực, nhưng cũng có một số nhược điểm, hạn chế.
Cho đến nay, có việc lớn như quan hệ với nước ngoài của các đoàn ngoại giao, không ít người chú trọng đến việc đối đáp sao cho rắn rỏi, thể hiện được lòng tự tôn dân tộc của sứ giả hơn là quan tâm về những kết quả cần có mà chuyến quan hệ ngoại giao ấy mang lại cho đất nước, có việc nhỏ như vào các tháng đầu năm 2013 này, trên báo chí rộ lên thông tin các học sinh bậc phổ thông khắp nước, rất thích tấn công bạn bằng loại đồ chơi gọi là “bom thối” (khi xì ra, phát mùi hôi), chúng đều ít nhiều có “dính dáng” đến truyện trạng, nhân vật trạng. Việc đầu có thể tìm thấy ở cung cách ứng xử của phần lớn các nhân vật trạng; việc sau, có thể tìm thấy trực tiếp qua hành động của ba nhân vật trạng: Trạng Quỳnh (ở truyện “Ống quyển thi”), Xiển Bột (ở truyện “Trị bọn Tây đoan bắt rượu lậu”), Thủ Thiệm (ở truyện “Mo cơm”),... Cho dù các việc vừa nêu có thuộc tính cách dân tộc đi nữa, thì đó cũng là những việc làm không đúng. Mà đã vậy thì cần phải chỉnh sửa.
Một dân tộc biết ưu điểm để xiển dương, phát huy, biết nhược điểm hòng khắc phục, chế ngự, là một dân tộc tiến bộ. Trên con đường phấn đấu để có được một tính cách dân tộc tốt đẹp, thì những nhược điểm đang mắc phải nên đẩy lùi dần về quá khứ.
Bàn về tính cách dân tộc qua một đối tượng cụ thể là truyện trạng, một thể loại văn học dân gian có biểu hiện mạnh về vấn đề đặt ra, có thể có sự thuyết phục nhất định.

Quyền Tự Do Tư Tưởng và Bình Đẳng khi Phát Biểu

Trong một xã hội tự do, văn minh, tiến bộ, sự khác biệt ý kiến, chính kiến là phản ảnh của một chế độ dân chủ và cần phải được tôn trọng và bảo vệ. Hiến pháp của bất kỳ quốc gia văn minh nào cũng đều bảo vệ quyền phát biểu ý kiến trong hòa bình (bất bạo động) của toàn thể công dân. Còn đối với các dân biểu, thượng nghị sĩ, họ được quyền bất khả xâm phạm khi phát biểu mọi ý kiến, dù là chống đối lại đảng cầm quyền, tổng thống, thủ tướng đương nhiệm. Giả dụ ngày mai đây, một dân biểu hay một thượng nghị sĩ, một nhà nhà báo, một công dân nào bị bắt vì có ý kiến ngược lại Tổng Thống. Obama, thì Hoa Kỳ đã biến thành một quốc gia độc tài và nền dân chủ Hoa Kỳ chết ngay từ lúc đó.

Tuy nhiên quyền được có ý kiến khác biệt – một mặt của quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận – phải được trình bày trong tinh thần trọng pháp, ôn hòa, tương kính, bình đẳng. Nếu như một ý kiến khác biệt – trái với ý muốn hoặc lòng yêu/ghét của mình, mới vừa phát biểu ra đã bị chửi rủa, mắng nhiếc, mạ lỵ, chụp mũ, bôi lọ, hoặc dùng bạo lực bịt miệng – là hình ảnh của một chế độ phát-xít, độc tài khắc nghiệt. Những người hành xử như vậy ngôn ngữ Tây Phương gọi họ là extremist, fanatic hoặc mạnh hơn nữa là militant. Những người như vậy sẽ gây rối loạn và khổ đau cho xã hội và cộng đồng mà họ sinh sống.
Đạt được điều tốt lành nói trên trong sinh hoạt của xã hội không phải dễ dàng. Ngoài sự bảo vệ và công minh của luật pháp, cần có sự giáo dục công dân và đạo đức bản thân nữa. Có ba yếu tố khiến cho tinh thần dân chủ trong đó quyền tự do ngôn luận được thể hiện tốt đẹp là:
1)  Tinh thần cởi mở hay đầu óc rộng rãi (open-minded)
Theo Tự Điển Longman 2004, open-minded là sẵn sàng chấp nhận những ký kiến, quan điểm mà mình không thích hoặc trái với ý muốn của mình. Nếu một ý kiến trái ngược với quan điểm của mình vừa đưa ra, mình đã nổi xung thiên, chửi mắng người ta – là mình không có đầu óc cởi mở, dù mình có biện minh như thế nào đi nữa.
2) Sự chịu đựng lẫn nhau/ nhẫn nại hay nhẫn nhục
Thế giới này không phải chỉ có ta, gia đình ta, chủng tộc của ta, quốc gia ta, tôn giáo của ta mà còn có người khác, gia đình khác, chủng tộc khác, quốc gia khác và tôn giáo khác. Ta có thể thích cái này nhưng người khác lại thích cái kia. Ta tôn thờ cái này nhưng người khác lại tôn thờ cái khác. Ta bảo cái này là chân lý nhưng người khác lại nói cái đó “trật lấc”. Ta yêu cái này nhưng người khác lại căm thù và khinh ghét cái đó…và còn muôn ngàn thứ ngang trái, mâu thuẫn nữa…đang diễn ra hằng ngày trên thế giới. Vậy thì phải làm sao đây? Chẳng lẽ người ta khác mình – thì đem lựu đạn quăng vào nhà người ta? đốt nhà người ta? chôn sống hoặc thiêu sống người ta? Những hành vi này có thể làm được khi thế giới còn bán khai nhưng bây giờ thì không được. Không có một quốc gia văn minh nào bây giờ dám ghi những điều bất công, hung ác đó vào trong hiến pháp mà tất cả đều phải long trọng ghi những gì tốt lành như : Tự do, bình đẳng và công lý, v.v. Trước nhu cầuQuần Tụ, Sống Chung và Phát Triển tôi và bạn phải làm sao đây? Như trên đã nói, ngoài sự công minh của luật pháp, bản thân chúng ta cũng cần phải chịu đựng, nhẫn nại, cảm thông, tôn trọng và dung hòa với nhau. Điều chúng ta cần ghi nhớ là câu nói “Anh/chị cũng là người, tôi cũng là người. Anh/chị có quyền nói tôi cũng có quyền nói. Nếu muốn bình đẳng thì chúng ta phải tôn trọng nhau chứ?”
3) Điều quan trọng nữa cần phải tâm niệm là trong Vũ Trụ mọi sự không có gì vĩnh cửu
Cả Mặt Trời (Star) kia chỉ còn sống được 5 tỉ năm nữa. Nó đang chuyển hóa để biến thành Red Giant rồi rồi phóng ra những khối nóng khổng lồ rồi biến thành White Dwarf rồi đi vào giai đoạn cuối cùng (Final stage) tức Thần Thái Dương tuyệt mệnh và loài người tận thế. Còn trên Trái Đất (Planet) này muôn sự cũng biến đổi theo thời gian. Trước đây trái đất được coi là vuông rồi sau đó mới thấy tròn. Mặt trời tưởng xoay quanh trái đất nay hóa ra trái đất xoay chung quan mặt trời. Mưa tưởng Long Vương trên trời tưới nước xuống nào ngờ mây gặp lạnh thành mưa. Chế độ đa thê được cổ vũ, bây giờ một vợ một chồng. Nô lệ là đặc hữu của kẻ chiến thắng, bây giờ mọi chủng tộc đều bình đẳng. Trong cái Thế Giới Ta Bà ngang trái và huyễn hoặc này mọi thứ quay đảo không ngừng. Những thần tượng trong quá khứ bây giờ bị kéo sập. Những nạn nhân bị giết hại trong quá khứ nay được nhân loại vinh danh. Những giá trị đạo đức trong quá khứ bây giờ mới vỡ lẽ ra là “ngụy quân tử” hay đạo đức giả hình. Mục Sư Martin Luther King tưởng đâu là kẻ gây bạo loạn xã hội, chết đi lại trở thành lãnh tụ nhân quyền vĩ đại. Ô. Mandela ở tù 26 năm vì chống lại chính quyền Da Trắng, sau trở thành tổng thống đầu tiên của Nam Phi. Kha Luân Bố (Columbus) trước được tuyên dương là người khám phá ra Mỹ Châu nay bị phanh phui là kẻ ác độc hủy diệt văn hóa bản địa, cải đạo, chặt tay thổ dân Nam Mỹ để đòi vàng và reo rắc đủ thứ bệnh dịch làm dân bản địa diệt chủng…Và còn nhiều thứ Thiên thượng phù vân như bạch y. Tu du hốt biến vi thương cẩu.” cười đau khóc hận nữa. Chính vì thế – cái mà mình tưởng đúng bây giờ, ngờ đâu chỉ 5, 10 năm sau thôi lại trở thành sai. Cái mà bây giờ mà mình cho là sai và chống đối kịch liệt, 5, 10 năm nữa nó lại đúng. Nếu hiểu được Luật Vô Thường như thế thì mọi chuyện nên phản ứng từ từ, nhẹ nhàng trong tinh thần cảm thông và hiểu biết không ngoài mục đích tạo tốt lành cho cuộc sống và cho xã hội. Hành xử được như thế là từ bỏ được quan niệm cực đoan, quá khích cũng như cuồng tín, giáo điều.
4) Mặc dù được hưởng quyền tự do ngôn luận tức là muốn nói gì thì nói nhưng không phải không có hậu quả về mặt pháp lý. Luật pháp bất cứ quốc gia nào cũng qui định trừng phạt tội vu cáo hoặc phỉ báng không ngoài mục đích ngăn chặn những kẻ lợi dụng quyền tự do ngôn luận để làm tổn hại danh dự của người khác. Ngoài ra chế tài về mặt lương tâm lại càng quan trọng hơn. Bạn tưởng rằng những bài viết của bạn trên báo, phổ biến trên Internet hoặc in ra thành sách sẽ bay đi như một cơn gió thoảng? Thưa không! Ngay giờ phút này đây bạn có thể rất thỏa mãn với những gì bạn đã và đang viết ra. Thế nhưng khi bạn chết đi, con cháu bạn sẽ đọc những tài liệu, những bài viết, những cuốn sách đó. Chúng nó có thể có những ý nghĩ, quan điểm khác với chúng ta. Chúng nó có thể đau khổ tự hỏi tại sao cha, ông nó lại có thể viết ra những điều hung ác, bất công và thiếu lễ độ như vậy. Xin nhớ rằng tất cả những gì chúng ta đang làm ngày hôm nay sẽ để lại một gia tài(tích sản) hoặc một gánh nặng (tiêu sản) cho thế hệ mai sau. Nếu nói theo thuật ngữ nhà Phật là chúng ta tạo nghiệp – nghiệp lành hay nghiệp dữ.
Thưa quý bạn:
Đọc những đoạn trên đây bạn thể có cho rằng tôi có ý “dạy đời”. Thưa không phải như thế. Chia sẻ (sharing) những gì mình trải qua, những gì mình suy nghĩ cho người khác biết đang là một nhu cầu bức thiết của xã hội. Một xã hội khép kín là xã hội mà con người không nói rõ hoặc không dám nói rõ cho người khác biết về con người mình, về điều mình thương, không thương, không thích. Đó là một xã hội ngột ngạt. Mà xã hội khép kín như thế sẽ tạo ngăn cánh và dễ đưa tới hiểu lầm và nghi kỵ. Từ hiểu lầm, nghi kỵ đưa tới chia rẽ. Từ chia rẽ đưa tới xung đột, từ xung đột sẽ đưa tới khủng bố hoặc giết hại lẫn nhau. Cho nên hầu hết các chính quyền đã và đang tạo rất nhiều diễn đàn (forum) hoặc các buổi nói chuyện, mạn đàm (talk show) để cho mọi người có dịp chia sẻ những suy nghĩ thật lòng của mình.
Thưa bạn:
Không có gì hạnh phúc cho bằng được sống trong một xã hội an lành, cảm thông, yêu thương và hiểu biết. Mọi thứ đều là Vô Thường duy chỉ có Tình Thương, Lòng Từ Bi, Hỉ Xả là tồn tại vĩnh viễn với thời gian. Mọi chuyện xin cứ từ từ, đâu còn có đó.Tomorrow is another day. Chân lý, sự thật vẫn còn đó và sẽ hiển lộ với thời gian. Chúng ta viết, bạn bè chúng ta viết, con cháu chúng ta viết rồi thế hệ tiếp nối sẽ tìm hiểu và sẽ viết để cùng chung góp vào sự chân chính của lịch sử.
Trong một ly nước đục, bợn nhơ sẽ nổi lên trên. Nếu cứ khoắng mãi, bợn nhơ sẽ tiếp tục nổi. Nhưng khi để lắng yên thì bợn nhơ sẽ chìm xuống đáy. Thời gian là liều thuốc Tiên vì thời gian sẽ gạn lọc những cái xấu để chỉ tồn tại những gì tốt lành. Sự xung đột ý kiến là điều phải có mà đã có từ ngàn đời nay. Câu tục ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt” cho thấy từ ngàn xưa ông bà mình cũng đã cãi nhau ghê lắm rồi. Tuy nhiên dù thế nào đi nữa thì: Mọi người đều bình đẳng. Mọi người đều đáng quý. Mọi ý kiến đều được lắng nghe.
Xin chúc quý bạn và bửu quyến trú dạ, lục thời An Lành để sống yên vui trong một thời đại quá nhiều căng thẳng (stress), quá nhiều thúc ép (pressure), quá nhiều bạo lực (violence), quá nhiềubuồn chán (depressed) và quá nhiều thuốc an thần.http://daovanbinh.cattien.us/?p=404

Quyền bình đẳng

Điều 52 Hiến pháp qui định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
Điều 63 Hiến pháp qui định: “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình.”
Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người, quyền công dân. Đó là quyền được xác lập tư cách công dân trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử và quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau. Nó được xem xét các cấp độ khác nhau.
Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có. Trong xã hội không thể có tự do nếu không có sự bình đẳng thật sự giữa các thành viên trong xã hội với nhau. Bản chất của sự bình đẳng là công nhận các giá trị như nhau của các thành viên xã hội trong tất cả các lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội và pháp luật.Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước pháp luật là một quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia qua hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý . Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở của tự do và tự nguyện. Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Chính pháp luật cũng ranh giởi, giới hạn sự bình đẳng với sự bình quân chủ nghĩa và không thể có bình đẳng nếu có người đứng cao hơn pháp luật. Quan niệm như vậy sẽ hóa giải được mâu thuẫn giữa hai lý thuyết về nguồn gốc quyền con người và phù hợp với đặc tính của quyền con người là: tính hiện thực và tính được thể chế hóa thành luật
Từ logic nay có thể khẳng định quyền con người là cái có trước và nhà nước với công cụ của nó là pháp luật chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bình đẳng tuyệt đối không phải là sự ban phát hay có thể xin- cho từ phía nhà nước mà chỉ là ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm.
Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật có nội dung thứ hai đó là quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử trong việc hưởng các quyền và twhcj hiện các nghĩa vụ. Như trên đã nói, con người sinh ra về mặt có thể có sự khác nhau về chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo và địa vị xã hội. Tuy nhiên, đó không phải là căn cứ để pháp luật phân biệt trong việc hưởng các quyền và chịu trách nhiệm pháp lý. Ngược lại, pháp luật luôn đặt giá trị bình đẳng làm thước đo, tiêu chuẩn để lấp đầy khoảng cách không bình đẳng đó bằng việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý ngang nhau. Quyền bình đẳng trước pháp luật không bị pháp luật phân biệt, đối xử còn có khía canh khác đó là quyền được hưởng tất cả các quyền con người như nhau ở mọi nơi, mọi lúc và mọi hoàn cảnh
Sự bất bình đẳng trong trong các nước XHCN ở Đông Âu trước đây là nguyên nhân của các cách mạng dân chủ mà ngọn cờ của nó là tự do, bình đẳng hơn. Biểu hiện của sự bất bình đẳng là đặt một quan hệ pháp luật nào đó ra ngoài vòng pháp luật: Chính quyền cộng sản ở các quốc đó đã đặt các tổ chức, đảng phái chính trị, các công dân không tuân phục đảng cộng sản ra “ngoài vòng pháp luật”… là những biểu hiện sinh động nhất cho việc vi phạm quyền bình đẳng trước pháp luật.
Chính vì vậy, sẽ không bao giờ có quyền bình đẳng trong đó có bình đẳng trước pháp luật nếu trong xã hội còn tồn tại một nhóm người tự cho mình những đặc quyền đặc lợi, tự cho mình ở vị trí cao hơn so với những thành viên khác trong xã hội.
Thứ tư, quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng: Quyền con người luôn đứng trước nguy cơ bị xâm hại từ nhiều phía. Đó có thể là các cá nhân khác trong xã hội cũng có thể từ phía công quyền. Khi những quyền đó bị xâm hại dưới góc độ bình đẳng trước pháp luật, con người đều có quyền được pháp luật bảo vệ như nhau với các quyền pháp lý nhất định. Bảo vệ quyền bình đẳng này cũng là cơ sở để bảo vệ các quyền khác của con người. Quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng là nhu cầu đòi hỏi cần có phương tiện, công cụ pháp lý từ phía nhà nước. Được thể hiện ở hai khía cạnh. Đó là quyền được bảo vệ quyền một cách bình đẳng và quyền được bảo vệ quyền bình đẳng. Bảo vệ quyền, xét ở cả hai khía cạnh này đều là việc trong pháp luật ghi nhận các quyền bình đẳng và tạo ra cơ chế bảo vệ quyền đó khi nó bị xâm phạm. Nội dung của quyền bình đẳng trong bảo vệ quyền đòi hỏi mọi hành vi vi phạm phạm đều phải bị xử lý như nhau trước pháp luật. Tòa án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền bình đẳng trước pháp luật. Một tòa án công bằng nó phải là hiện thân của công lý là nơi nơi phẩm giá con người đứng trước tòa được thừa nhận như nhau và được bảo vệ như nhau. Tòa án án không phải là công cụ chuyên chính, không phải nơi để chà đạp, xúc phạm hạ nhục nhân phẩm con người.
Cuối cùng, người ta thực hiện quyền bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm. Nói cách khác, quyền bình bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, dân sự, văn hóa xã hội dưới vùng “phủ sóng” của pháp luật. Điều này được quyết định bởi thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách là các quy phạm do nhà nước ban hành và thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Trên bình diện luật pháp quốc tế. Quy định về quyền bình đẳng đầu tiên được đề cập trong các Điều 1, 2, 6, 7, 8 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR), sau đó được tái khẳng định trong các Điều 2, 3, 16 và 26 ICCPR, cụ thể như sau:
Về khía cạnh thứ nhất, Điều 1 UDHR nêu rõ, mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền...Điều 2 UDHR quy định, mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do…mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác. Ngoài ra, Điều này cấm phân biệt đối xử dựa trên địa vị chính trị, pháp lý của quốc gia hoặc lãnh thổ, bất kể là lãnh thổ độc lập, uỷ trị, quản thác, chưa được tự quản hay đang phải chịu bất kỳ hạn chế nào khác về chủ quyền.
Hai điều kể trên của UDHR được nhắc lại và cụ thể hóa trong các Điều 2 và 3 ICCPR. Theo Điều 2 ICCPR, các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác (Khoản 1). Các Khoản 2 và 3 Điều này đề cập đến nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải tiến hành các biện pháp cần thiết…nhằm thực hiện các quyền được công nhận trong Công ước, và bảo đảm rằng bất cứ người nào bị xâm phạm các quyền và tự do như được công nhận trong Công ước đều nhận được các biện pháp khắc phục hiệu quả, cho dù sự xâm phạm này là do hành vi của những người thừa hành công vụ gây ra…Điều 3 ICCPR tập trung vào khía cạnh bình đẳng giữa nam và nữ, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong việc thực hiện tất cả các quyền dân sự và chính trị mà Công ước đã quy định.
Về khía cạnh thứ hai, Điều 6 UDHR quy định, mọi người đều có quyền được công nhận tư cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi. Quy định này được tái khẳng định nguyên văn trong Điều 16 ICCPR.
Về khía cạnh thứ ba, Điều 7 UDHR quy định, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào…Điều 8 UDHR cụ thể hóa một khía cạnh quy định ở Điều 7 khi nêu rằng, mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.
Điều 26 ICCPR tái khẳng định hai quy định kể trên của UDHR, đồng thời nêu rõ, về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác.
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã khẳng định rằng mọi công dân đều có quyền bình đẳng. Nhưng trên thực tế tại Việt Nam, kể từ khi dành độc lập năm 1945 đến nay. Quyền bình đẳng của công dân vẫn bị xâm phạm và chưa thực sự được tôn trọng.
Những vi phạm về quyền bình đẳng của công dân biểu hiện như sau:
-          Những công dân Việt Nam có ý kiến, quan điểm, chính kiến về chính trị khác hoặc đối lập với đảng cộng sản cầm quyền thì thường bị sách nhiễu, bị qui kết là phản động, chống lại chính quyền và nhiều người bị cầm tù;
-          Những công dân có bài viết phê phán, chỉ trích đảng cộng sản cầm quyền, đòi thay đổi điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng thì đều bị qui kết phản động, bị sách nhiễu, nhiều người bị cầm tù;
-          Những công dân tham gia thành lập hoặc gia nhập các đảng phái, tổ chức chính trị đối lập với đảng cộng cũng bị qui kết phản động, bị sách nhiễu, nhiều người bị cầm tù.
-          Ngoài ra những công dân Việt nam theo đạo Tin Lành không thể gia nhập các lực lượng cảnh sát, an ninh.
Trên đây chỉ là một số biểu hiện tiêu biểu của quyền bình đẳng bị vi phạm. Rõ ràng, thiểu số những công dân Việt Nam là đảng viên đảng cộng sản được hưởng mọi quyền và lợi ích trong xã hội, được quyền áp đặt tư tưởng, ý trí của họ lên trên 84 triệu công dân không phải đảng viên đảng cộng sản. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng hiện nay còn nằm ở điều 4 Hiến pháp. Điều 4 Hiến pháp đã trao quyền và cơ hội lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam vào tay của nhóm thiểu số hơn ba triệu đảng viên đảng cộng sản. Đồng thời, điều 4 Hiến pháp lại tước đi quyền và cơ hội lãnh đạo nhà nước và xã hội của đại đa số hơn 84triệu công dân khác. Đây sự bất bình đẳng giữa các công dân Việt Nam với nhau. Nhóm người thiểu số trong xã hội đã lấn át quyền và lợi ích của đại đa số người dân.
Quyền bình đẳng là một trong những giá trị vĩ đại của văn minh con người.  Nó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của loài người mới đạt được. Nó không là một giá trị nhất thành bất biến mà có quá trình phát sinh, phát triển theo hướng luôn được làm mới và bổ sung cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Các giá trị đó do xã hội sáng tạo ra và thuộc về xã hội về xã hội. Mọi công dân không biệt đều phải được hưởng những giá trị vĩ đại của quyền bình đẳng.
Chúng ta mong muốn rằng đảng cộng sản nhận ra sự bất bình đẳng mà họ đã và đang áp đặt trên hệ thống chính trị, trong luật pháp và trong xã hội. Đảng cộng sản Việt Nam hãy thay đổi, tôn trọng quyền bình đẳng giữa các công dân Việt Nam cho dù họ có quan điểm, chính kiến chính trị đối lập với mình. Đó là nền tảng để xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
                                                                                                                        @VNHRC

Bình đẳng về Danh dự và Phẩm giá

Bình đẳng Đạo Đức có nghĩa là về nguyên tắc, tất cả mọi người trong xã hội đều bình đẳng với nhau về Danh dự và Phẩm giá, xứng đáng được tôn trọng và quan tâm như nhau. Điều này có vẻ khó tin, bởi xã hội nào cũng có người giàu, kẻ nghèo, người địa vị cao, kẻ không địa vị. 

Sự khác biệt giữa các quốc gia phát triển ở phương tây và các quốc gia kém phát triển phương đông là ở chỗ: ở phương tây, con người chỉ khác nhau trên phương diện vật chất, về vị trí làm việc, nhưng được bình đẳng với nhau về mặt tinh thần; trong khi ở phương đông, nếu bị coi là kém tài thì cả vật chất lẫn tinh thần đều bị thua thiệt.
Theo tháp Tâm lý của Maslow, Nhu cầu được Tôn trọng là một trong những Nhu cầu Cơ bản nhất của con người (chỉ sau các Nhu cầu Bản năng: Ăn, Ngủ, Hít thở,…). Chính vì vậy ở phương đông, cuộc sống của những người nghèo, người ít địa vị trở nên khổ sở, nhiều mặc cảm, tự ti hơn. Trong khi đó họ lại là lực lượng chiếm đa số trong xã hội.
Liên quan đến vấn đề này, John Rawls, một trong những triết gia hàng đầu của thế giới, đã dành 20 năm nghiên cứu để viết cuốn Lý thuyết về sự công bằng(2) rất nổi tiếng. Lý thuyết của ông được ứng dụng trong nhiều ngành khoa học xã hội. Trong đó ông nhấn mạnh “Tài năng cũng là một dạng may mắn”. Có thể coi Tài năng, Sắc đẹp, Dòng dõi Trâm anh Thế phiệt là các dạng may mắn bẩm sinh. Quý Nhân Phù Trợ, Xổ số độc đắc, Môi trường thuận lợi… là các dạng may mắn do xã hội mang lại.
Xã hội phương Đông thường cho rằng người tài bị người kém tài hơn chiếm mất vị trí là những người chấp nhận bất công do bẩm sinh. Phân bố tài năng của loài người theo hình tháp, càng lên cao càng ít người đạt được. Có nghĩa, số người được tôn trọng tối đa ở xã hội phương đông rất ít, số người ở mức độ được tôn trọng thấp vô cùng đông đảo.
Nhiều người cho rằng điều này là đương nhiên, kém tài hơn thì rõ ràng ít được tôn trọng hơn. Tuy nhiên, dưới góc độ triết học thì điều này không đương nhiên một chút nào, bởi không ai muốn mình bị sinh ra kém tài. Nếu như đa số người trong một xã hội, dù nỗ lực tối đa cũng chẳng thể đạt được sự tôn trọng tối đa có nghĩa là xã hội Trọng Tài ấy cũng tồi tệ chẳng kém gì các xã hội Trọng Chủng Tộc, Trọng Dòng Dõi, bởi vì nó dựa trên những đặc điểm không thể thay đổi của con người.

Hậu quả của Bất Bình Đẳng Đạo Đức là tạo ra một xã hội thiếu nhân văn:
(i) Đa số công dân trong xã hội ít nhiều đều bị tổn thương về mặt tinh thần, bởi họ không được tôn trọng cao như mong muốn. Cùng một kiếp người, kẻ thì được sùng bái như thánh thần, kẻ thì bị coi như rơm rác.
(ii) Sinh ra những con người thoái hóa nhân cách, luồn cúi kẻ trên, nạt nộ kẻ dưới, không từ những thủ đoạn xấu để dành được Tiền bạc, Địa vị xã hội, Bằng cấp, Giải thưởng…để được coi là Tài năng. Người Việt rất bất lịch sự ở nơi công cộng, ít khi nói“xin lỗi”, “cám ơn” những người gặp thường ngày, trong khi rất giỏi xu nịnh những kẻ chức quyền;
(iii) Tiếng nói của đa số công dân không được trân trọng cho nên họ không tích cực tham gia ý kiến vào các công việc cộng đồng, không đấu tranh chống tiêu cực, mà chỉ lên tiếng khi lợi ích của bản thân bị xâm hại.

Sự thiếu tôn trọng người khác còn thể hiện ở chỗ không có khả năng cấp nhận ý kiến khác biệt. Người Việt vô tư can thiệp vào công việc của người khác khi họ không yêu cầu; khăng khăng áp đặt quan niệm, chuẩn mực của mình lên người khác mà không cần biết họ là những thực thể khác mình, lớn lên trong môi trường khác và được gia đình giáo dục hoàn toàn khác. Đã có nhiều công việc hợp tác thất bại, đặc biệt là các công việc vì cộng đồng ít mang lại lợi ích cá nhân, bởi những người khởi xướng không thực sự tôn trọng đối tác, hoặc cho rằng với tuổi tác, tài năng, địa vị, kiến thức…của mình, những người kia có nghĩa vụ phải tuân theo các “sáng kiến” của mình
Một xã hội Bình đẳng Đạo đức không đòi hỏi ai phải biết ơn ai, (trừ những người trực tiếp giúp đỡ mình), để tránh sự thần thánh hóa cá nhân. Đại diện của xã hội sẽ tri ân những người có nhiều đóng góp với xã hội nhưng từng cá nhân thì không tự động có nghĩa vụ ấy. (Mặc dù ngay cả tri ân như thế nào là vừa cũng cần phải tranh luận). Điều này còn có nguyên do là cuộc sống của mỗi người bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Người tài được xã hội tri ân không phải vì họ tài năng hơn người mà bởi họ góp phần tạo ra của cải vật chất cho cộng đồng. Tuy nhiên người tài không tạo ra được, mà ngược lại, có thể làm tổn hại những giá trị tinh thần quan trọng nhất của những người khác – đó là sự tự tôn và sự trân trọng của xã hội đối với họ. Hạnh phúc chân chính của mỗi người phải do chính bàn tay, khối óc của họ tạo ra và được xã hội ghi nhận chứ không phải từ sự ban ơn của ai, bởi ơn nghĩa cũng giống như món nợ về mặt tinh thần, là điều những người tự trọng không mong muốn. Chính vì vậy, xã hội Bình đẳng Đạo đức không yêu cầu ai phải mang ơn ai, mà cố gắng tìm kiếm và tôn vinh những dạng tài năng khác nhau, tạo điều kiện để cho càng nhiều người có cơ hội đóng góp cho xã hội càng tốt. Ngược lại, những người được hưởng nhiều quyền lực, bổng lộc từ xã hội cũng cần phải cảm thông với những người khác, bất đắc dĩ phải tham gia vào cuộc đời này với những bất lợi bẩm sinh hoặc bất lợi do xã hội đem lại.
Ở phương đông, công dân đã được giáo dục về Bình đẳng về Luật Pháp. Bình Đẳng về Đạo Đức là khái niệm rộng hơn, đòi hỏi người dân có nghĩa vụ tôn trọng lẫn nhau, cố gắng tư duy và đối xử một cách công bằng. Nghĩa là, nếu bạn khiến người khác phiền muộn bởi những hành vi không tôn trọng họ hoặc cho rằng họ không cao quý, không giá trị bằng người nọ người kia, thì cũng không ai bỏ tù bạn. Nhưng bạn cần ý thức rằng điều đó là vi phạm đạo đức. Bình đẳng Đạo đức không có nghĩa là cào bằng. Những người tài năng hơn vẫn có thể có nhiều của cải vật chất hơn, công việc ưng ý hơn. Nhưng trong phép xã giao nơi công cộng, tất cả mọi người đều đáng được trân trọng như nhau.
Bình Đẳng Đạo Đức đã trở thành một giá trị phổ quát ở các quốc gia văn minh nhưng còn thiếu trong triết lý phát triển của xã hội Việt nam. Tôi hi vọng rằng những người có tâm huyết với xã hội sẽ quan tâm đầu tư nhiều hơn để nâng cao dân trí về vấn đề này. 
Nguyễn Kiều Dung
Nghiên cứu sinh kinh tế và triết học, Hoa kỳ