Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Tội đồ bất đắc dĩ

Tội đồ bất đắc dĩ Aziz Nesin trích Tại sao tờ báo bị đóng cửa Thái Hà dịch NXB Lao Động
Chiếc xe buýt chật níc người. Nhưng giữa đám người chen chúc ấy vẫn nổi bật lên một vị khách mà thoáng trông cũng biết đi nhầm xe. Chỗ của ông ta lẽ ra phải là ở trong xe cấp cứu mới phải. Vì tay trái ông bị buộc treo lên vai bằng một sợi dây vải trắng. Đầu băng bó chằng chịt, một mắt sưng húp lên, còn mắt kia thì thâm tím xung quanh. Một tay bám lấy thanh vịnh, ông khách vừa cố xoay xở tìm chỗ đứng cho thuận tiện, vừa rên rỉ luôn miệng. Thấy vậy, một hành khách đang ngồi tỏ ra thương hại, đứng dậy nhường chỗ cho ông ta.
- Cảm ơn ông! - Ông khách mình đầy thương tích rên rỉ.
- Ủa bác Xenman đấy à? Thế mà tôi không nhận ra! - Người khách vừa đứng dậy nhường chỗ kêu lên. - Bác bị sao thế này? Đứa nào đánh bác hay sao mà mặt mày thâm tím hết cả lên thế kia?
- Bác Xaraphettin đấy à? Chào bác! Chà, bác hỏi làm gì cho thêm buồn... Cái thân hình tôi thế này đã ba tháng nay rồi...
- Rõ khổ! Thế nhưng bác làm sao vậy
- Lạy thánh Ala! Xin người thương xót con! Con hoàn toàn kiệt sức mất rồi...
- Thế các "đốc tờ" bảo thế nào ạ? Bác bị bệnh gì vậy?
- Ối dào! Đốc tờ mà làm quoái gì! Đốc tờ cũng chả chữa được bệnh của tôi... Lạy thánh Ala! Sao người lại bắt con chịu đựng cái cực hình thế này! Mà lại không bắt kẻ thù của con phải chịu!... Ôi, khắp người tôi đau như dần, đến chân tay cũng không cử động nổi nữa.
- Nhưng dù sao bác cũng phải đi bệnh viện cho đốc tờ họ khám xem thế nào chứ?
- Bệnh viện gì! Đến nhà thương điên thì có! Chẳng dấu gì bác, tôi bị mắc một bệnh truyền nhiễm...
Nghe nói thế, Xaraphettin bỗng lùi hẳn người lại.
- Chết! Thế sao bác còn đi ra phố làm gì?
- Chao ôi, nói thì dễ đấy, nhưng nào có ngồi nhà được cho cam! Tôi bị lây cái bệnh của thằng con tôi mất rồi...
- Thế cậu nhà cũng bị à?
- Nó còn bị nặng bằng mấy lần tôi ấy chứ! Bệnh của nó đã thành mãn tính rồi. Tôi bây giờ cũng vậy. Có mỗi cái trường phổ thông mà nó không sao tốt nghiệp được! Năm nó lớp chí đã bị đúp, lên lớp mười cũng lại thế nốt! Mà cũng chỉ tại trò bóng bánh chết tiệt! Đã bao nhiêu lần tôi van lạy nó rằng: "Mày quăng ngay cái trò bóng bánh khốn nạn ấy đi cho tao!" Nhưng nó lại trả lời tôi: "Con không quăng được". Nó hủy hoại cái thân xác nó thật là ghê gớm. Đến nỗi tôi với mẹ nó không còn nghĩ đến chuyện mong nó học giỏi nữa, mà chỉ lo làm sao cứu vãn lấy tính mạng của nó mà thôi! Mỗi lần nó đi đá bóng về trông nó cứ như vừa đi đánh giặc vậy! Đội ơn thánh Ala! Bây giờ nó bị gãy chân trái rồi, nên không đá bóng được nữa.
Thấy nó bị gãy chân, tôi sung sướng quá, vì không thế thì thể nào cũng có ngày nó bị người ta đánh chết. Ôi, xin Đức Ala hãy tha thứ cho chúng con! Tôi và mẹ nó thường bảo: "Thôi cho nó gãy chân cũng được! Chỉ cốt sao nó thoát khỏi cái bệnh truyền nhiễm ấy mà còn sống là may rồi!". Nhưng từ khi bị gãy chân, nó lại quay sang mê xem bóng đá quá thể. Hôm nào có bóng đá thì có trời giữ được nó ở nhà! Đá ở đâu nó cũng mò đi xem cho bằng được. Đá ở Ankara thì nó nhảy đi Ankara, đá ở Izơmia nó tếch đi Izơmia! Nhưng cái chuyện nó cứ đi đi về về như con thoi ấy cũng chưa hẳn là nhục! Nhục nhất là mỗi lần đi về trông nó lại phờ phạc không còn ra hồn người nữa! Chân đứng không vững, giọng nói thì khản đặc lại. Có đến hàng bao nhiêu lần tôi bảo nó đứng có la hét như điên ấy cho khản tiếng ra. Nhưng nó bảo tôi: "Bố chỉ có ngồi nhà mà nói! Bố cứ thử ra sân mà không hét xem nào...". Có hôm nó đi xem về thế nào mà đầu vỡ toác ra, còn hôm khác thì mũi bị dập nát và mắt thì sưng húp lên. Giá bảo nó mà còn đá bóng như hồi xưa mà bị như thế thì còn hiểu được, chứ đằng này nó chỉ xem người ta đá thôi cơ mà... Nhưng nó lại cãi: "Ai đi xem mà chẳng phải đánh nhau! Bố cứ thử đi ra đấy mà ngồi im xem nào". Có lần chúng tôi phải đến bốt cảnh sát để nhận nó về. Những người đi xem bóng đá đánh nhau dữ quá, cảnh sát phải giải tất cả về bốt. Có đến hai lần chúng tôi phải khiêng nó từ xe cấp cứu xuống. 
"Trời ơi! Sao con không thương xót cái thân con một chút, mà lại đi hủy hoại nó thế hả con". Tôi nó với nó như vậy. Nhưng nó bảo rằng tuy cũng biết thế, nhưng nó không làm thế nào được! Nghe nó trả lời như vậy mà tôi thấy điên tiết! Tôi bảo nó: "Thôi được! Hôm nào mày dẫn tao đi với mày để tao xem cái trò bóng bánh của mày nó như thế nào?".
Và thế là tôi đi với nó đến sân vận động Mitkhatpasa.
Trận đấu bắt đầu. Đương nhiên, ban đầu tôi chưa cổ vũ cho đội nào cả. Đội nào thắng hay thua đối với tôi cũng thế cả thôi. Tôi cứ ngồi quan sát khán gỉa và cười một mình.Bất ngờ có một quả sút vào lưới y như một mũi tên. Cú sút thật tuyệt vời! Chính mắt tôi được nhìn thấy! Nhưng lão trọng tài ăn gian không cho tính điểm. Tôi tức không chịu được. Thấy mọi người "ê" trọng tài,tôi cũng bắt chước "ê!..ê!" rõ to. Bỗng tôi nghe thấy có ai bảo trọng tài không cho ăn quả ấy là đúng. "Không đúng! - Tôi cãi lại. - Quả sút ấy rất đẹp! Nhưng trọng tài ăn gian! Đúng là lão ta ăn đút lót rồi". Gã kia bảo tôi: "Đồ con lợn! Mày có biết có những cú sút như thế nào không hả?" Tôi bảo hắn rằng có hắn là: "đồ con lợn" thì có! Vì mới đi xem lần đầu nên tôi đâu biết tính tình của cái dân ham mê bóng đá. Thế là chưa kịp nói hết câu, tôi bị hắn thoi cho một quả như trời giáng, ngã quay ra đất. May mà có những người ngồi bên cạnh can được, chứ không thì tôi đã  bị no đòn với thằng cha ấy rồi! Còn ông con tôi thấy tôi bị đánh cũng chả thèm để ý gì cả, cứ mải xem và luôn mồm kêu: " Xem kìa! Sắp tung lưới nữa đây này!"
Kể từ lúc đó, cái đội mà tôi bị ăn đòn vì nó bỗng trở thành cái đội tôi yêu mến. Bây giờ, mỗi khi bóng đến chân các cầu thủ đội này là tôi không ngồi im được nữa. Tay tôi bắt đầu vung lên, như chuẩn bị đánh nhau vậy. Còn chân thì đá lung tung. Giá lúc này bóng mà rơi vào chân tôi, thì có lẽ tôi phải bắn đá lên tít mặt trăng chứ chả chơi! Vung vẩy chân thế nào mà tôi đá bốp một cái vào lưng cái ông ngồi trước: "Ấy chết, xin lỗi bác". Tôi vội nói, nhưng ông ta đáp lại với cái giọng của người hiểu biết: "Không hề gì! Chuyện ấy là thường!". Một lúc sau thì chính tôi lại bị một cú đá vào lưng nẩy đom đóm mắt. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng ở trên sân vận động thì không cái gì là không thể xảy ra!
Những cú đấm, cú đá, cú huých từ bốn phía cứ thỉnh thoảng lại giáng vào đầu, vào lưng. Nhưng cũng chẳng ai thèm để ý đến làm gì! Ấy là lúc mọi người đã ham xem quá mất rồi! Bóng ở tít tận ngoài sân cỏ, mà mình ngồi đây, cứ anh bên cạnh mà sút thật lực. Mà lạ một cái, lúc ấy chẳng ai thấy đau cả.
Sau đó... bác Xaraphettin ạ, đội của tôi lại sút tung lưới một quả nữa, nhưng thằng cha trọng tài lại không cho ăn. Lần này thì tôi không nhịn được nữa. "Đuổi cổ trọng tài ra sân!" Tôi gào lên như diên, không còn biết gì đến xung quanh nữa! Chân tay tôi run cả lên. Bên cạnh tôi là một ông bán nước chanh. Tôi cứ vớ lấy những cái chai nước của ông ta mà ném vào lão trọng tài. May mà đó là những chai nước chanh, chứ không phải là lựu đạn!... Chẳng ai còn buồn nhìn ra sân cỏ nữa, mọi người quay sang choảng nhau loạn xạ. Tôi túm cổ được một thằng bé và cứ thế bóp làm nó suýt nghẹn thở. Thật đúng là vô tình mình có thể trở thành kẻ giết người là vì thế. Khốn nạn cho thằng bé, nó cứ gào lên, bảo rằng cũng ủng hộ cái đội của tôi. Tôi vừa buông nó ra thì có một thằng cao lêu đêu bỗng vật ngửa tôi ra mà đè lấy đè để. Tôi kêu to gọi thằng con tôi, nhưng cái thằng giời đánh còn đang mải nện nhau với trọng tài ở trên sân. Tôi gọi cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng đang đấm đá nhau túi bụi. Thôi được, để tôi hỏi cái thằng cha đang đè lên người tôi xem hắng cổ vũ đội nào. Té ra hắn cũng cổ vũ cho đội của tôi! Phải khó khăn lắm tôi mới thoát ra khỏi đôi chân gọng kìm của hắn, vì hắn ghì tôi chặt quá, sợ để tôi thoát ra thì không tìm được ai để đánh.
Mãi một lúc sau, mọi người mới trở về trật tự, và trận đấu mới lại được tiếp tục. Để cổ vũ các cầu thủ, bây giờ, bắt chước mọi người, tôi cũng bắt đầu hét to: " H-o-a-n h-ô! H-o-a-n h-ô!" Hét được một lúc thì giọng tôi khản đặc. Tôi bèn quay sang gõ vào cái thùng sắt tây của ông ngồi đằng trước. Ông này mang cái thùng đi cũng là để cổ vũ các cầu thủ. Nhưng đến khi hai cầu thủ trên sân bỗng xông vào nhau đấm đá túi bụi, thì cảnh tượng mới thật hỗn loạn. Tôi bị một thằng cha nào đó tung bổng lên cao Thú thật, chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thẻ bay cao đến thế! Sau đó... sau đó thế nào thì tôi cũng không biết gì nữa. Chỉ biết lúc tỉnh lại thì đã thấy mình đang nằm trong nhà thương.
- Thế là suốt từ hôm đó tới giờ bác vẫn chưa bình phục?
-Xaraphettin hỏi.
-Vầng, vì đến chủ nhật sau tôi lại đến sân vận động. Chả là đội của tôi chơi mà! Làm sao mà ngồi nhà được! Nói thì dễ đấy, nhưng hôm ấy cứ thử ngồi nhà xem có được không? Có mà lấy dây thừng trói chân anh lại, thì anh vẫn cứ chuồn đi được! Ôi, sao mà người tôi đau thế này!...
Bỗng từ cánh tay băng bó của Xenman có một vật gì rơi ra.
À cái hộp sắt tây ấy mà! Để tôi gõ vào nó khi nào không thể gào được nữa. - Xenman cắt nghĩa cho tôi, khi tôi nhặt chiếc hộp đưa cho bác ta.
Xe dừng lại. Xenman đứng dậy, rên rỉ nói:
-Thôi chào bác,bác Xaraphettin!
-Không dám, chào bác. Bây giờ bác đến khám đốc tờ chớ?
-Ấy chết! Trận hôm nay bỏ thế nào được! Chà! Lạy chúa! Chỉ mong sao cho con đừng đến muộn.

Hào phóng

Hào phóng trích Tại sao tờ báo bị đóng cửa Aziz Nesin Thái Hà dịch NXB Lao Động
Các báo đưa tin:
"Phạm tội chỉ vì năm curuser (*)! Tên Rukhi đã cầm dao đâm vào bụng người bán vé xe điện!"
Một hành vi quá sức điên rồ. Ai nấy đều phẫn nộ.
-Quân dã man!
-Đồ thú vật!...
-Cầm dao đâm người chỉ vì năm curucơ!...
Người ta nhổ vào ảnh tên Rukhi đăng trên báo.
-Đồ dã thú! Tội nghiệp cái ông bán vé xe điện, không biết sống chết ra sao!
Nhưng không ai biết được nguyên nhân sâu xa của cái tội ác ấy.
Các bạn chắc sẽ hỏi: "Hay người bán vé xe điện có lỗi gì chăng?"
Xin thưa ngay là hoàn toàn không!
Tôi không đồng ý với các báo. Tội ác được thực hiện không phải vì năm curusơ. Năm curusơ chỉ là cái cớ bên ngo..ài mà ta biết được.
Xin các bạn hãy tự phán xét.
Hôm đó là thứ bảy, Rukhi được lĩnh lương. Cả chỗ tiền lương ấy cũng không trả đủ một nửa số nợ. Y về nhà mà lòng buồn bã. Y ngó vào bếp. Vợ y đang bật diêm châm lửa bếp ga.
-Con mẹ đàn bà hoang phí! -Rukhi quát lên -Chỉ vì cô mà cuộc sống suốt đời chật vật. Phải tiết kiệm diêm chứ! Hay cô là triệu phú thích chơi trò chơi bắn pháo hoa?! Một bên bếp đang cháy kia, việc gì phải dùng diêm. Dí mảnh giấy vào rồi châm vào bếp thứ hai là được rồi!
Rukhi mãi không nguôi giận. Tâm trạng y đã bị mất cân bằng. Y quay ra buồng.
Đứa con gái chín tuổi đang ngồi làm bài.
-Cái gì thế này?! Mày lại xé vở phải không?
-Bố ơi, con bị giây mực vào vở.
-Mày bắt chước mẹ mày hả?!... Bừa bãi, hoang phí hệt như mẹ mày!... Các người chỉ muốn hại ta...
Thằng contrai ở cửa hàng về, lấy dao cắt dây buộc hàng.
-Cái gia đình gì thế này không biết! -Rukhi lại nổi cáu.
-Không ai biết coi trọng cái gì cả! Hay lắm!... Cứ cắt đi, cứ xé đi, cứ phá hết đi! Để xem cuối cùng sẽ thế nào? Chả lẽ cởi một sợi dây cũng khó khăn đến thế hay sao? Đến lúc cần buộc cái gì cũng lại ra cửa hàng, xì tiền ra mua! Bây giờ mình mới hiểu tại sao cái nhà này suốt đời thiếu tiền! Toàn một lũ ăn tàn phá hoại!... Một lũ vung tiền qua cửa sổ!...
Y giận quá, bỏ cả cơm không ăn. Y ra khỏi nhà, đóng sầm cửa lại.
Trên phố y gặp một người bạn. Hóa ra anh ta cũng chưa ăn cơm. Hai người rủ nhau vào một tiệm ăn. Bữa ăn hết bay lia hai mươi lăm curusơ. Cả hai cùng móc ví một lúc.
-Xin anh đừng bận tâm, để tôi trả! -Rukhi nói.
Người bạn phản đối:
-Không đời nào! Tôi sẽ trả.
-Anh mà trả thì, tôi thề, tôi sẽ giận đấy!
-A, tôi không để anh trả đâu! Trừ phi anh bước qua xác tôi!... Bao nhiêu lâu mới gặp nhau!... Không, không, tôi không cho phép đâu!
Chỉ thêm chút nữa có thể họ sẽ cãi nhau to. Cuối cùng nhờ cương quyết hơn, Rukhi giành được quyền trả tiền. Y đưa cho anh hầu bàn tờ mười lia. Anh này mang cái khay trả tiền thừa lại - hai lia rưỡi và bảy mươi lăm cursơ tiền lẻ.Phải cho anh ta bao nhiêu tiền puốc-boa nhỉ? Bảy mươi lăm curusơ thì ít quá, hai lia rưỡi thì lại nhiều quá. Đưa tay cầm số tiền thừa, Rukhi do dự một giây, sau đó cầm hai lia hai mươi lăm curusơ ở khay lên. Anh hầu bàn cảm ơn. Họ rời tiệm ăn bước ra ngoài. Rukhi thấy bứt rứt trong người.
"Trời ơi, đồ con lừa! -Y tự nguyền rủa mình. -Tại sao lại không ăn cơm ở nhà cơ chứ? Được, cứ cho là không ăn cơm nhà đi. Nhưng có thể ra ngoài phố mua một cặp bánh mì vòng ăn tạm cũng được cơ mà. Mà mình không làm thế cũng được thôi.Nhưng vậy thì tại sao lại không tự cho phép mình một bữa ăn cơm? Hơn nữa, lại còn đi trả tiền cho một gã gần như xa lạ này. Còn tay hầu bàn đã được mười phần trăm tiền dịch vụ rồi, mình lại còn cho thêm hai trăm hai mươi lăm curusơ nữa.
Đúng là đồ con lừa, con lừa! Không biết đến bao giờ mi mới thành người được?!"
Những ý nghĩ buồn bã cứ luẩn quẩn quanh đầu y.
Y chia tay với người bạn.
Đến đầu phố y lại gặp người quen khác.
-Ô, anh Rukhi, anh đi đâu đấy?
-À, đi loanh quanh thôi.
-Đến Emigrian ở ngoại ô uống trà đi!
-Đi thì đi!
-Ta gọi taxi đi.
Tai Emigrian cạnh quán trà họ xuống taxi, hai người cùng móc ví một lúc.
-Để tôi trả.
-Ấy không, anh cho phép thôi. Không tôi sẽ giận đấy!
-Không đời nào, để tôi trả.
-Tôi sẽ giận anh suốt đời đấy. Vì đây là ý của tôi!
-Anh cứ thử trả đi, tôi thề từ giờ sẽ không chơi với anh nữa!
Rukhi cuối cùng lại là người cương quyết hơn.
-Hết bao nhiêu vậy, bác tài? -Y hỏi người lái xe taxi.
-Các ngài cho bao nhiêu thì cho.
Rukhi không chờ câu trả lời như vậy. Đưa bao nhiêu bây giờ đây? Có lẽ tốt hơn cứ để bác ta tự lấy. Y đưa cho người lái xe từ giấy bạc năm mươi lia. Người lái xe trả lại y hai mươi bảy lia rưỡi. Rukhi dúi vào tay bác ta thêm năm lia nữa.
Vào quán tra họ gọi một ấm samôva.
"Trời ơi, đồ con lừa! con lừa -Rukhi lại bực mình. - Không, mi không thể thành người được. Tại sao lại đến khu Emigrian nàylàm gì cơ chứ? Cứ ngồi nhà có phải hơn không? Mi cần cái xã hội thượng lưu này lắm hay sao?! Đồ ngu! Sao không để gã này trả tiền xe taxi? Ừ, thôi, mi trả cũng được, nhưng sao tự nhiên mi lại cho phép gã lái xe xỏ mũi? Thằng đểu, hắn xơi ngon hai mươi hai lia rưỡi. Thế mà mi, một con lừa đần độn, lại còn cho hắn thêm năm lia nữa!"
Y uống trà mà thấy đắng như thuốc độc. Gần tối khi chuẩn bị đứng dậy, cả hai lại cùng đưa tay sờ ví.
-Xin phép anh, để tôi trả! Anh làm ơn đi!
-Tôi xin anh, hãy cho tôi niềm vui này!
-Không đời nào!
-Hãy nhường tôi đi, tôi van anh đấy! Vì thánh Ala!... Để tôi trả!...
Rukhi bướng bỉnh hơn và cuối cùng y thuyết phục được người bạn.
-Hết bao nhiêu tiền chú? -Y hỏi cậu hầu bàn.
-Ba lia rưỡi ạ!
Rukhi ném lên bàn tờ năm lia.
-Không cần trả lại!
Họ bước ra khỏi quán trà.
"Trời ơi, đồ con lừa! -Rukhi tự rủa thầm trong bụng - Đồ con lợn ngu ngốc! Ai lại đi uống trà ba lia rưỡi bao giờ! Thà ngồi nhà cũng uống nó được cái thứ nước thổ tả này! Vào đây uống trà cũng được, nhưng lẽ ra phải để người ta trả tiền chứ. Lại còn không lấy tiền thừa nữa! Con lừa! Con lừa! Con chó còn đáng trở thành người hơn là mi!"
Họ lại lên taxi. Về đến thành phố hai người lại bắt đầu tranh nhau trả tiền. Lần này Rukhi cũng lại thắng và được trả tiền.
"Ôi trời! Con lừa! Con lừa!..." -Y luôn nguyền rủa mình.
Rukhi chia tay với người bạn, trong lòng đau khổ vì sự ngu ngốc của mình. Trên đường đến Galataray y lại gặp một người bạn nữa. Thậm chí không phải bạn, mà chỉ là người quen sơ mà y không nhớ cả tên. Hai người được giới thiệu làm quen với nhau tại một bữa tiệc nào đó. Họ chỉ gặp nhau và chào nhau một câu thế thôi.
-Ô... xin chào!
-Chào anh!
-Anh đi đâu vậy?
-Dạo chơi loanh quanh thôi.
-Tôi đề nghị thế này. Ta vào quán bia lam một chầu đi! Đến quán "Passage" ấy!
Họ rẽ vào quán "Passage", gọi mỗi người một vại bia. Rồi họ lại gọi tiếp. Rồi lại gọi tiếp nữa.
Người bạn của Rukhi gọi hầu bàn.
-Cho hai li vôtka, một đĩa xalat, một món gì nóng. Có cá ômar sốt không? Tóm lại, cho đồ nhậu gì thật ngon ấy!
Cuối cùng thanh toán - sáu mươi bốn lia.
-Để tôi trả. -Rukhi nói.
-Không đời nào!
-Nhưng tôi chiêu đãi mà.
-Tôi không cho phép đâu, anh bạn! Tôi là người mời anh.
-Cứ để tôi. Bao nhiêu lâu mới gặp lại...
Cuối cùng Rukhi trả tiền. Y đưa cho người hầu bàn một tờ năm mươi lia và hai tờ mười lia.
-Không phải trả lại đâu!
Gần nửa đêm họ mới rời quán "Passage"
-Trời ơi! Con lừa, con lừa! -Rukhi bực tức nguyền rủa mình - Khi nào mới khôn lên được. Không ngồi ở nhà mà uống! Còn nếu đã vào quán uống thì hãy để cho người nào mời mi trả tiền chứ! Không, lại tranh lấy trả cơ! Mà thế vẫn còn chưa đủ! Còn "boa" cho tên hầu bàn những sáu lia.
Hai người chia tay nhau.Trong lòng Rukhi như có tảng đá đè. Đã đến lúc phải về nhà. Y bước lên tàu điện, trong bụng vẫn không ngớt nguyền rủa mình:
"Con lừa, con lừa, con lừa! Ngày hôm nay đã bao nhiêu lần mi làm chuyện ngu ngốc rồi! Đây đúng là bài học tốt cho mi nhớ suốt đời!"
Đúng, từ bây giờ trở đi y phải tiết kiệm từng xu mới được!
-Mua vé nào! ... Hành khách nhớ mua vé đi!
Rukhi đưa cho người bán vé hai mươi lăm curusơ. Hay là chỉ có hai đồng mười curusơ nhỉ. Y cũng không nhớ nữa. Đã đến bến của y.Ru khi quay lại bảo người bán vé:
-Bác trả lại tôi tiền thừa đi.
-Tiền thừa nào?
-Tôi đưa cho bác hai mươi lăm curusơ.
-Ông nhầm rồi... Ông đưa tôi hai đồng mười curusơ.
-Đồ lừa đảo! Định bịp ai đấy hả?!
-Ông nói gì thế!... Ông đưa tôi hai mươi curusơ.
-Không đúng!
Tôi nói điêu tôi chết. Tôi thề với ông đấy!
Rukhi rút trong túi ra con dao gip, mở lưỡi ra và đâm một nhát vào bụng người bán vé.
Tên tuổi Rukhi được đưa lên các báo.

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

"Chín người mười ý" và hình thức tổ chức xã hội Nguyễn Khánh Trung

Khỏi phải lý thuyết gì cao xa cũng có thể khẳng định, chuyện “chín người mười ý” là bản chất của xã hội con người, bất kể là ở đâu, thuộc về nền văn hóa nào. Nếu có xã hội nào mà luôn luôn muôn người một ý, có lẽ đó không còn là xã hội con người bình thường nữa, đó là một xã hội robot, nơi con người đã bị biến thành công cụ, bị điều khiển và chắc chắn xã hội đó sẽ tẻ nhạt và chậm phát triển.


Chiến tranh và độc tài trong một xã hội

Chuyện “chín người mười ý” tưởng chừng đơn giản, ấy vậy mà trên thế giới đã tốn bao nhiêu xương máu vì chuyện này, bởi có những cá nhân, hay nhóm người không hiểu hay cố tình không hiểu. Xã hội được kết cấu bởi các cá nhân và các nhóm người khác nhau, trong đó nhóm nào cũng có cái lý của mình, nhờ cái lý đó mà các thành viên quy tụ chia sẻ với nhau. Khi có nhiều thành phần khác nhau như thế, chắc chắn sẽ có sự xung đột giữa các thành viên trong nhóm hoặc giữa các nhóm với nhau. Những chuyện này xảy ra cũng là điều tự nhiên như hơi thở, là bản chất của xã hội con người, cũng giống như chuyện “chín người mười ý” đã nói. Nội chiến xảy ra là do các nhóm thương lượng, thỏa thuận với nhau không được bằng lời, bằng lý luận dẫn đến sử dụng vũ lực, dùng đến vũ khí.

Có những cá nhân, hay nhóm người mạnh trong xã hội đã xưng hùng xưng bá, khi đã có quyền lực trong tay, thì tìm cách làm hợp lý hóa và hợp pháp hóa tư tưởng, các giá trị riêng của mình, áp đặt lên mọi người như một thứ chân lý phổ quát duy nhất. Dĩ nhiên là, chân lý đó phải có lợi cho trật tự xã hội mà trong đó họ ngồi ở hàng đầu để thống trị người khác, đó là lý của kẻ mạnh trong các xã hội độc tài.

Như vậy có thể nói, tình trạng chiến tranh, độc tài xảy ra trong xã hội con người, là do con người không tôn trọng nhau, không biết dùng lời lẽ trí tuệ để thương thuyết với nhau, để điều tiết các xung đột bất đồng trong xã hội. Hay nói cách khác, các xã hội đó chưa có dân chủ, hay chưa đạt đến xã hội dân chủ thực sự.

Dân chủ như một giải pháp

Các xã hội Tây phương sau một thời gian đánh đấm nhau, cuối cùng cũng tìm ra được một giải pháp, một hình thức tổ chức xã hội hợp lý mà cho đến nay, loài người chưa tìm ra một hình thức nào mới hơn, hợp lý hơn. Đó chính là xã hội dân chủ. Trước tiên, họ nhất trí với nhau trên nguyên tắc công nhận chuyện “chín người mười ý” là bản chất của xã hội. Họ luật pháp hóa “chuyện chín người mười ý” thành một nguyên tắc ứng xử, và cũng luật pháp hóa những nguyên tắc giải quyết bất đồng, xung đột trong xã hội; họ giáo dục công dân “tôn trọng sự khác biệt”, tôn trọng tự do cá nhân của người khác, biết cách thương lượng, giải quyết các xung đột, xem đó là những giá trị, những chuẩn mực, những kỹ năng của đời sống văn minh. Mọi ý kiến, ý tưởng, lập trường, khuynh hướng của các cá nhân, các nhóm trong xã hội đều được tôn trọng, được tự do tồn tại và phát triển trong một cơ chế cạnh tranh bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Ai muốn theo ý nào, lập trường nào là quyền tự do của mỗi người. Muốn làm cho mình mạnh lên thì tìm đồng chí, lập ra hội, ra nhóm, ra đảng để vận động, thuyết phục người khác. Về chính trị, nhóm nào vận động được nhiều người trong xã hội đi theo, chiếm đa số thì nhóm đó cầm quyền, hoặc liên minh với các nhóm khác cầm quyền, còn những nhóm khác tiếp tục đóng vai trò phản biện, đối trọng với nhóm cầm quyền để làm cho xã hội hài hòa... Và để bảo đảm trật tự của một xã hội “chín người mười ý”, người ta phân biệt rõ giữa công và tư. Họ cho rằng, anh theo nhóm nào, đảng nào, tín ngưỡng nào thì cứ việc, đó là quyền của anh, là chuyện riêng tư của anh (lĩnh vực tư), chứ không phải chuyện công (lĩnh vực công), chuyện chung của mọi thành phần trong xã hội. Các thiết chế như Nhà nước, quân đội, cảnh sát, tòa án, giáo dục phải là thuộc lĩnh vực công, nhằm đảm bảo trật tự xã hội, bảo vệ và thi hành luật pháp, bảo vệ cho quyền lợi của mọi người, của các nhóm khác nhau.

Có thể nói, mô hình xã hội dân chủ là một giải pháp hợp lý mà con người tìm ra, biến “chuyện chín người mười ý”, tưởng chừng như là xấu, là nguyên nhân của đánh đấm nhau một thời thành sức mạnh, kích thích và thúc đẩy sự tiến bộ về mọi mặt, từ khoa học, kỹ thuật, giáo dục đến kinh tế thông qua cơ chế cạnh tranh. Thực tế trên thế giới cho thấy, đất nước nào theo mô hình dân chủ đều không nhiều thì ít cũng phát triển cả, không kể là ở đâu, văn hóa nào. Vì vậy, theo tôi, muốn Đất nước phát triển, khỏe mạnh về văn hóa, kinh tế, giáo dục, khoa học, thì không có con đường nào khác là phải chấp nhận xã hội như bản chất của nó, đó là “chín người mười ý”, và tổ chức quản lý xã hội trên sự công nhận này.

Giáo dục

Về giáo dục, các trường tư thì không nói, nhưng các trường công phải thuộc lĩnh vực công, nhằm đào tạo ra những người công dân trung lập, trang bị cho trẻ nhỏ ý thức về các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người công dân tương lai nhằm chuẩn bị cho các em thái độ chấp nhận, tôn trọng sự khác biệt và có khả năng, có tinh thần tham gia tích cực vào xã hội với bản chất là “chín người mười ý”. Không có một nhóm nào có quyền lấy nhà trường làm phương tiện riêng cho mình. Ở Pháp, người ta cấm các khẩu hiệu tuyên truyền mang tính chính trị trong nhà trường. Trường học là thiết chế công, dành cho con em của mọi thành phần, của mọi nhóm, là nơi gặp gỡ của muôn người muôn ý, nên không có cá nhân nào, hay nhóm nào có quyền sử dụng nó để phục vụ cho ý đồ riêng của nhóm mình. Mục tiêu giáo dục, do đó, không phải là đào tạo học sinh thành những con người công cụ, theo một khuôn mẫu nhất định nào, theo ý chí của một nhóm nào đó, nhưng nói như J. J, Rousseau (1712 – 1778), triết gia đã sống cách chúng ta 250 năm, là nơi đào tạo học sinh LÀM NGƯỜI1, con người tự do, tự chủ và có trách nhiệm. Trường học là nơi chuyển tải những tri thức và phương pháp khoa học, nơi giữ gìn và chuyển tải các giá trị văn hóa tốt đẹp từ thế hệ này sang thế hệ khác, là nơi trang bị cho các em khả năng và tinh thần phản biện để chính các em có khả năng suy xét, và dùng lý trí của mình để tự tạo cho mình một lối đi riêng, hay để chọn cho mình một con đường, một nhóm giữa một xã hội với bản chất là “chín người mười ý”.
nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=6181&CategoryID=41

CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI (Các quyền không thể tước bỏ)

CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI (Các quyền không thể tước bỏ)

"Chúng ta coi những sự thật sau đây là hiển nhiên: mọi con người được sinh ra đều bình đẳng, họ đã được tạo hóa ban cho một số quyền không thể tước bỏ được, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc. Để bảo đảm cho các quyền đó, các chính phủ được thiết lập nên với quyền lực chính đáng dựa trên sự nhất trí của những người bị quản lý (người dân)."

Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản  mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó - các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình.

Các quyền không thể tước bỏ bao gồm các quyền:
Tự do ngôn luận, thể hiện và tự do báo chí.
Tự do tôn giáo.
Tự do hội họp và lập hội.
Quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật.
Quyền được xét xử công bằng và theo đúng trình tự tố tụng.

Tự do ngôn luân:
"Các công dân trong thể chế dân chủ được sống với một niềm tin chắc chắn là thông qua trao đổi cởi mở về các tư tưởng và quan điểm, chân lý và sự thật sẽ được tìm thấy để chiến thắng sai lầm hay dối trá, đồng thời các quan điểm hay các tư tưởng khác sẽ được nhận biết giá trị rõ hơn, các vấn đề thỏa hiệp cũng được xác định rõ ràng và khi đó con đường dẫn tới tiến bộ, phát triển sẽ được khai thông. Sự cởi mở trong trao đổi càng lớn thì kết quả càng tốt đẹp. " 

Trái hẳn với các chế độ độc tài, các chính phủ dân chủ không kiểm soát, ra lệnh hay đánh giá nội dung của bài viết hoặc bài nói chuyện. 

Nhưng chính phủ nên làm gì trong trường hợp các phương tiện thông tin hoặc một số tổ chức khác lạm dụng quyền tự do ngôn luận để tạo ra các thông tin mà theo đa số là không đúng sự thật, phản cảm, vô trách nhiệm hoặc đơn giản chỉ là khó chấp nhận? Nói chung, câu trả lời sẽ là: không làm gì cả! Đơn giản chỉ là: công việc của chính phủ không phải để xử lý những vấn đề như thế. Nói chung, phương thuốc cho tự do ngôn luận chính là ngôn luận tự do hơn. Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng nhân danh ngôn luận tự do, thể chế dân chủ đôi khi phải bảo vệ quyền của các cá nhân và các tổ chức khi họ tự cho rằng các chính sách phi dân chủ đang đàn áp ngôn luận tự do. Các công dân của xã hội dân chủ bảo vệ các quyền này với một niềm tin tưởng là sự tranh luận cởi mở cuối cùng sẽ dẫn tới sự thật lớn hơn và các hành động của dân chúng sẽ khôn ngoan hơn so với khi ngôn luận hay sự bất đồng bị bóp nghẹt.

Hệ quả của tự do ngôn luận là quyền của nhân dân được nhóm họp và đòi hỏi một cách ôn hòa chính phủ phải lắng nghe những mối bất bình của họ. Không có quyền hội họp, không có quyền được lắng nghe, khi đó tự do ngôn luận không còn giá trị nữa. Do đó, tự do ngôn luận coi như là vô nghĩa nếu không được gắn bó mật thiết không thể tách rời với quyền hội họp, phản kháng và quyền đòi hỏi thay đổi. Các chính phủ dân chủ có thể quy định một cách hợp pháp về thời gian và địa điểm của các cuộc tập hợp và tuần hành chính trị để duy trì hòa bình, nhưng họ cũng không thể sử dụng quyền lực để đàn áp sự phản kháng hoặc ngăn cản các nhóm, các tổ chức phản đối lên tiếng cho công luận nghe rõ.

Tự do và tín ngưỡng

Tự do tín ngưỡng, hay nói rộng hơn là tự do về nhận thức có nghĩa là không ai bị đòi hỏi phải tin theo một tôn giáo hoặc một niềm tin nào ngược lại với mong muốn của chính họ. Hơn nữa, không ai bị trừng phạt hay ngược đãi bằng bất kỳ hình thức nào chỉ vì họ chọn lựa tôn giáo này chứ không phải tôn giáo khác, hoặc không chọn lựa một tôn giáo nào cả. 

Tư cách công dân: Quyền và trách nhiệm

Các thể chế dân chủ dựa trên nguyên tắc là chính phủ tồn tại để phục vụ nhân dân, còn nhân dân không tồn tại để phục vụ chính phủ. Khi nhà nước bảo vệ quyền của công dân, thì đáp lại, công dân trung thành với nhà nước của họ. Dưới một chế độ độc tài, nhà nước tồn tại như một thực thể tách rời xã hội, đòi hỏi lòng trung thành và sự phục vụ từ những người dân của họ mà không có một bổn phận tương xứng nào đối với dân chúng, để đảm bảo có được sự nhất trí của người dân đối với các hành động của họ.
Tương tự, các công dân trong một xã hội dân chủ được tận hưởng quyền tham dự vào các tổ chức không phụ thuộc vào chính phủ và được tự do tham gia vào các hoạt động của xã hội. Đồng thời họ cũng phải chấp nhận nghĩa vụ đi kèm quyền tham gia đó: Tự tìm hiểu và học hỏi về các vấn đề, biết dung hòa khi xử sự với những người có quan điểm trái ngược, và biết thỏa hiệp khi cần thiết để đạt được thỏa thuận.
http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_whatisdemocracy_ii.html

Vài bài viết về triết học hiện sinh (thhs)

Phi lý và sự tự sát
Chỉ có một vấn đề triết học thật sự nghiêm túc: đó là sự tự sát. Đánh giá cuộc đời đáng sống hoặc không đáng sống chính là trả lời cho vấn đề cơ bản của triết học. Những vấn đề còn lại, như thế giới có ba chiều hay không, linh hồn có chín hay mười hai loại, tất cả đều được xếp ở phía sau.
http://thuykhue.free.fr/mucluc/hiensinh.html
 triết học hiện sinh là tư tưởng chủ yếu của thế kỷ 20;triết học cổ điển của Tây phương , vũ trụ to quá con người bị bỏ quên, coi con người là một vật thể, coi con người là thế này thế kia, trong khi con người có thể thế này có thể thế kia, có thể là quỷ hay là thánh, tôi là một chủ thể tính và tôi là một nhân vị tự do, chủ thể tính và nhân vị tự do là 2 vấn đề chính của thhs,không coi con người là một sự vật của toàn thể vũ trụ, thhs coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy theo quan điểm của mỗi người, khi con người xác định được chủ thể tính của mình, con người nhận định rằng không sự vật gì có gì là tuyệt đối,con người hs là con người dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan với khả năng mình, tự do ở đây không phải tự do của thế giới tự do, tự do ở đây là tự do hiện sinh,tức là tự do bên trong, tự do lựa chọn , td quyết định, tự do dám làm mình,nếu tôi cứ sống như cái máy ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta làm sao mình làm vậy, thì tôi chỉ sống như một sinh vật chưa sống cái kiếp người, cuộc sống ù lì đó sống chỉ để sinh tồn như cây cỏ đó gọi là buồn nôn, tầm thường,phi lý, để thoát khỏi cuộc sống buồn nôn, tầm thường pi lý đó con người phải vượt lên chính mình, phải phải sống độc đáo , một chủ thể độc đáo: tự chọn một lối sống riêng không bắt chước người khác và chịu sự kìm chế và sai bảo của người khác , nhân vị và tự do là nội dung của hiện sinh, chúng ta chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật 1711thuykhue
Nietzsche Phê bình luân lý cổ truyền & thuyết siêu nhân: Không thể có chân lý trừu tượng, cltt là cái người ta dạy lại ta chấp nhận mà ta không xem lại, nó lạnh lừng như xác chết và không có ích cho cuộc hiện sinh, chỉ có chân lý cụ thể
Luân lý chủ ông: luân lý của giai cấp thống trị, quí tộc có bản tính ngang tàng kiêu hãnh, llco xây dựng trên lòng tự tín, tự đại, của kẻ hào hùng
Luân lý nô lệ : người nô lệ bị đàn áp yếu hèn nên họ lập ra đức nhẫn nại, khiêm tốn,từ bi là đức của người bất lực, Nietzsche khinh bỉ tôn giáo, tg là sản phẩm của kẻ bệnh tật hèn yếu không có can đảm để đấu tranh để sống cuộc hiện sinh ở đời này, nên mới tạo ra các giá trị yếm thế chối bỏ cuộc hiện sinh để mưu cầu cuộc sống hạnh phúc ở đời sau. tôi là xác và hồn có khi tôi chỉ là thân xác mà thôi, thuyết lý người hùng đả phá các học thuyết không giúp cho con người phát huy hết khả năng vô tận của cuộc hiện sinh ... siêu nhân là người hoàn toàn tự chủ, không lệ thuộc vào thói tục do luân lý cổ truyền tạo nên để nô lệ hóa con người, hãy luôn luôn trở nên là chính mình, hãy là ông chủ người điêu khắc để tạo nên chính mình, đừng nhắm mắt làm nô lệ kẻ khác, đừng để bảo sao nghe vậy ,phải có ý tự quyết, tự chọn con người phải tự vượt mình, quần chúng tuy đông về số nhưng không có ai là người hết, quần chúng chỉ là những cái miệng để hoan hô đả đảo, những tay lãnh đạo bảo hoan hô thì họ hoan hô bảo đả đảo thì họ đả đảo ngay, qc thật là cái máy khổng lồ và vô hồn, ai muốn sống cuộc hiện sinh phải thoát ra ngoài cuộc sống vô hồn ấy, sống phải sáng tạo, phải dám nghĩ những cái chưa ai dám suy nghĩ , phải tự giác và tự giải thoát, chẳng có nô lệ nhục nhã nào bằng nô lệ tinh thần, kể cả nô lệ người thầy, ông thầy dạy ta làm người không phải dạy ta làm học sinh suốt đời, phải xa ta ra, chống lại ta biết đâu ta chẳng phải là một kẻ bịp bợm, hãy coi chừng đừng để cho thần tượng đè chết. Con người phải bước qua thượng đế,thánh hiền,thần tượng, Nietzsche, bước qua chính mình mà đi.
đoc Nietzsche ta thấy hổ thẹn thói ươn hèn của tư tưởng ta,ta thấy hổ thẹn vì thái độ nô lệ và thụ động ta,ta chưa vươn tới mức làm người tự do,ta thấy ta như lũ trẻ con, ngày ngày nhai đi nhai lại những lời lẽ của thánh hiền coi đó là nhưng bùa hộ mệnh tưởng chừng như những lời kinh hoa mỹ kia có phép mầu để giải quyết cuộc nhân sinh của ta ,mà ta không biết rằng ỷ lại như thế là sống thân nô lệ.Nietzsche viết: anh đã đi từ giun lên làm người nhưng vẫn còn rất nhiều giun dế trong anh, xưa kia anh là khỉ và ngày nay loài người còn khỉ hơn cả bất cứ con khỉ nào 24112001thuykhue
http://hoangphongtuan.wordpress.com/2012/06/30/nguoi-yeu-toi-hay-hinh-anh-nguoi-yeu-trong-noi-nho-cua-toi-la-co-thuc-hay-la-quan-niem-ve-hien-tuong-hoc-cua-husserl/

NGƯỜI YÊU TÔI hay HÌNH ẢNH NGƯỜI YÊU
TRONG NỖI NHỚ CỦA TÔI là có thực?
Husserl đặt ra một câu hỏi cổ xưa nhưng cơ bản: anh KHÔNG PHẢI là người yêu anh, sao anh biết người yêu anh có thực (có thực --> có nhận thức được cô ta hay không)? Ta không phải là sự vật, sự vật cũng không phải là ta, sao ta biết rằng sự vật có thực?

Vậy, KHÔNG PHẢI NỖI NHỚ CỦA ANH VỀ NGƯỜI YÊU LÀ CÓ THỰC cũng KHÔNG PHẢI MỘT CÔ GÁI NÀO ĐÓ ĐƯỢC XEM LÀ NGƯỜI YÊU ANH LÀ CÓ THỰC, mà CHÍNH HÌNH ẢNH VỀ CÔ GÁI NÀO ĐÓ HIỆN LÊN TRONG TÂM TRÍ ANH LÀ CÓ THỰC mà thôi, bất chấp ĐÓ CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI YÊU ANH HAY KHÔNG! 

Quyền riêng tư của lãnh đạo đến đâu?

Trong một tháng trở lại đây, cả thế giới xôn xao với vụ bê bối tình ái của tổng thống Pháp, ông Francois Hollande.Sự việc này gợi ra một câu hỏi thú vị: quyền riêng tư của lãnh đạo giới hạn đến đâu?
Dưới các triều đại phong kiến, một nguyên tắc phổ quát được áp dụng hầu như ở mọi nơi: lãnh đạo tối cao có quyền riêng tư tuyệt đối, không ai được phép “phạm thượng.” Tên vua không được nhắc, mặt chúa không được nhìn.

Điều này thay đổi nhanh chóng khi thế giới chuyển sang thời hiện đại. Tuy vậy, lần này thì không có một nguyên tắc chung nào nữa.
Báo chí Anh hiện cũng đang xoáy sâu vào vụ nguyên thủ lĩnh Đảng Dân Chủ Tự Do của Anh, Thượng nghị sĩ Christopher Rennard, bị cáo buộc quấy rối tình dục với các nhân viên nữ dưới quyền. Mặc dù không có chứng cứ cụ thể và chỉ dựa vào lời khai của nữ bị hại, sự nghiệp chính trị của ông này coi như đã chấm dứt. Xa hơn một chút, scandal tình ái với nữ thực tập sinh Monica Lewinsky cũng khiến cho cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton suýt phải từ chức
Dẫu người Pháp có nói “Việc công dừng lại ở cửa buồng ngủ,” một điều dễ nhận thấy rằng đã làm người của công chúng thì hầu như không còn khái niệm “quyền riêng tư” nữa. Người dân có quyền được biết mọi mặt trong đời sống của lãnh đạo, qua đó để quyết định xem liệu họ có làm đúng chức trách và bổn phận của mình, có lạm dụng quyền lực để phục vụ lợi ích bản thân, hay có đủ “tư cách đạo đức” để đứng đầu quốc gia hay không.
 Điều này buộc các lãnh đạo phương Tây, và cả gia đình của họ, phải “sống đàng hoàng,” bởi nhất cử nhất động đều được công chúng chú tâm theo dõi.

Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia châu Á, có vẻ như quyền riêng tư của lãnh đạo là bất khả xâm phạm. Bất cứ hành động nào đả động đến những người đứng đầu sẽ bị phản ứng rất mạnh mẽ, nhiều khi đi kèm với hình phạt nặng.
Hầu như chưa có tờ báo nào đưa tin scandal của lãnh đạo ở Châu Âu hay Mỹ mà bị “trừng trị thích đáng.”
Điều này thực hiện được là bởi tự do báo chí được pháp luật các nước này bảo vệ rất nghiêm ngặt. Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được quy định ngay tại Tu Chính số 1 của Hiến Pháp Mỹ, gần như là bất khả xâm phạm. “Dựa hơi” từ luật pháp, cộng với văn hóa chính trị cởi mở, báo chí được coi là quyền lực thứ tư trong xã hội phương Tây.
Ai cũng muốn đời tư của mình được tôn trọng, nhưng có lẽ khi gánh trên vai vận mệnh một quốc gia, các lãnh đạo phải chấp nhận một cuộc sống minh bạch hơn.

Điều đó tốt cho cả họ lẫn công chúng: nếu lãnh đạo không làm điều gì sai trái, niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân sẽ tăng lên và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng hơn.

Nếu lãnh đạo làm sai, công chúng có quyền được biết, phản ứng, và đưa ra những “hình phạt” của mình. Bởi lãnh đạo không chỉ là quyền, mà còn là nghĩa vụ.

Để có được sự minh bạch của lãnh đạo, điều kiện cần là báo chí phải được “cởi trói” để thực hiện đúng bổn phận cung cấp thông tin cho quần chúng.

Karl Marx, người từng được cho là cổ vũ cho báo chí định hướng, đã nói rằng tự do báo chí là điều kiện bắt buộc ở mọi xã hội bởi nó cho thấy sự hiện diện tích cực của tự do.
Khi còn là một nhà báo ở Đức, ông từng bị bắt giữ nhiều lần do chỉ trích chính quyền và hoàng gia Phổ (Prussia), cuối cùng bị trục xuất và phải sống lưu vong ở London, nơi ông hoàn thành bộ “Tư bản” nổi tiếng.

Trang Tử tinh hoa

Những tư tưởng của người đời phần đông ưa thích nhất là những tư tưởng thỏa được lòng dục vọng của họ. Người ta, ít có ai biết cần đến sự thật để sống. Cái gì trái với lòng ao ước của họ là họ bác ngay trước khi xem xét coi nó có đúng với sự thật hay không? Đã chẳng những bác ngay mà lại còn xem như thù địch. Những tư tưởng ủy mị, xu nịnh, vừa theo dục vọng của quần chúng sẽ được họ tôn thờ như một cái gì "thiêng liêng bất khả xâm phạm". Thiên hạ rùng rùng nghe theo và xem đó như một chân lý tuyệt đối, trong khi nó chỉ là một thõa mãn của dục vọng nhất thời thôi.
Một nhà xã hội học hiện đại tây phương có viết: "Phần đông quần chúng không bao giờ biết khao khát sự thật. Trước những sự thật hiển nhiên mà không vừa lòng họ, họ không thèm đoái hoài đến, mà trái lại họ chịu tôn thần thánh sự dối trá lạc lầm, nếu sự dối trá lạc lầm ấy khéo làm vừa lòng họ. Kẻ nào khéo ảo hoặc họ sẽ làm chủ họ được ngay rất dễ dàng; trái lại, kẻ nào tìm cách phá tan ảo vọng của họ, sẽ bị họ tru diệt không sai" Je'sus bị treo lên cây thập giá, Scorate bị bắt uống độc dược... phải chăng đều là vì muốn làm cho thiên hạ tỉnh ngộ
Óc bè đảng của con người cũng từ đó mà ra. Phàm những gì thuộc về bè đảng mình đều được xem là hay là đẹp. Không cần biết cái điều mình tin tưởng và cho là phải ấy, có thật phải, có thật đúng làm chi (gì) : hễ giống với mình thì cho là phải, không giống với mình thì cho là quấy. "Thiên hạ đều biết tìm cái mà mình không biết mà chẳng ai biết tìm cái mà mình đã biết; điều biết chê cái mà mình cho là không phải, mà chẳng ai biết chê cái mà mình đã cho là phải" (Khứ Cự 1). Hễ cùng một bè phái, cùng một quốc gia hay cùng một dân tộc, đều là phải cả, dẫu có sai lầm đến đâu cũng nhắm mắt bị tai, bỏ qua tha thứ. Tại sao ? "Con người ở đời, đều thích người ta đồng với mình, mà rất ghét người ta khác với mình" (Tề vật luận).
Ôi! "Hạng thật mê, suốt đời không tỉnh. Hạng thật ngu, suốt đời không khôn. Ba người cùng đi mà có một người mê, thì chỗ mình định nói đến còn có thể mong đạt tới được, là vì kẻ mê ít mà người tỉnh nhiều. Nếu ba người đi mà có tới hai người mê, thì chỗ mình định nói đến không thể mong đạt tới được, là vì người mê nhiều mà người tỉnh ít. Nay cả thiên hạ đều mê, ta dẫu có muốn chỉ đường cũng không thể được. Chẳng cũng xót xa lắm sao! Tiếng hát hay không sao lọt vào tai bọn dân quê: hát líu lo bậy bạ vậy, mà chúng náo nức vui cười !// dân ca Nghệ An thuộc thể loại này // Thế nên, lời nói cao không thể vào được nơi lòng chúng nhân. Lời hay không thể nói ra được là vì : lời thô rất nhiều, đầy lấp thiên hạ và được thế lực bè đảng ủng hộ. Lấy hai cái chình bằng đất, đánh to lên, thì nó lấp cả tiếng chuông đồng; vậy, cái chỗ mình định nói đến làm sao đạt tới cho được... Biết là sự chẳng có thể được mà gượng làm, đó lại còn mê hơn thiên hạ nữa. Cho nên, thà là bỏ đó mà chẳng suy cầu đến làm gì còn hơn..." (Thiên Địa)

Trích Trang Tử tinh hoa - Thu Giang (Nguyễn Duy Cần) Nhà xuất bản trẻ