Hiển thị các bài đăng có nhãn Aziz Nesin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Aziz Nesin. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014

ÔNG ÁC MÉT VÀ CON BÒ ĐỰC

Truyện vui . Azit Nexin (Thổ Nhĩ Kì)

Ngày xưa ở một xứ nọ có một ông Ác - mét. Ông ta buôn bán đại mạch, ngô, rơm rạ và nổi tiếng là giàu có. Nhưng ông ta không tiêu xài hoang phí mà chi tiêu rất dè xẻn.
Một hôm Vợ Ác - mét bảo ông ta:
- Đôi giày của con hỏng rồi. Phải mua cho nó đôi mới.
Ác - mét nổi giận:
- Lại đôi mới à? Hồi nhỏ, hai, ba năm mẹ tôi mới mua cho tôi một đôi giày, thế mà bố còn điên tiết nữa là. ở thời tôi một đôi giày đi hàng năm mười năm. Thế mà nó chỉ đi có hai tháng đã hỏng.
- Tôi đâu có lỗi - vợ đáp, - Tôi có làm hỏng giầy đâu cơ chứ.
Rồi bà xăm xăm đi đến chỗ con trai và mắng nó:
- Đồ ăn hại kia, hồi còn nhỏ bố mẹ đi hai năm mới hỏng một đôi giày chứ đâu như tụi trẻ ranh hư thân mất nết bây giờ. Một đôi giày mới đi có hai tháng đã tan tành!
- Thế lỗi con à? - đứa con cãi lại, - chính bố mẹ biết đấy: trước kia con đi cả năm mới tốn một đôi giày, sau đó một đôi chỉ đi được có nửa năm! Còn bây giờ thì mọi thứ tồi tệ hơn nhiều. Một đôi giày không thọ quá hai tháng. Chính bọn bán giày mới không có lương tâm. Họ bán toàn đồ hàng mã.
Hai mẹ con quyết định đến chỗ người bán giày mà họ thường mua để hiểu thực hư ra sao.
- Tôi đâu có tội! - người bán giày đáp. - Không phải chỉ có một mình bà đến phàn nàn về việc giày chóng hỏng. Tất cả mọi người đều bất bình như thế. Bà tưởng tôi thích những đôi giày ấy hay sao? Nhưng biết làm thế nào được: thời thế bây giờ là như vậy: người ta đã quên mất danh dự rồi. Những người thợ giầy đã giao cho chúng tôi thứ hàng như vậy. Bà đi mà hỏi họ ấy.
Nhưng các khách hàng đã làm cho gã chủ hiệu giày phải bực mình bởi rất nhiều những lời kêu ca phàn nàn. Cuối cùng gã không chịu được nữa và đích thân đến gặp người thợ giầy để tìm hiểu tại sao ông ta lại không đóng giầy tốt.
- Tôi không phải là nguyên nhân gây nên việc đó, người thợ giày đáp. - Bây giờ tôi phải mua nguyên vật liệu đắt hơn trước gấp nhiều lần. Mà hàng thì chẳng ra quái gì cả. Trước đây người ta có lương tâm hơn nhiều. Hàng của họ đâu phải là những tấm da mục thế này. Tôi đâu có lỗi.
Nhưng dầu sao thì cuộc nói chuyện đó cũng làm cho người thợ giày khó chịu. Ông ta bèn đến hỏi người bán da xem tại sao lại bán hàng kém phẩm chất.
- Thề có trời chứng giám, tôi không có lỗi, - người bán da một mực khăng khăng, - thời thế đã thay đổi rồi người anh em ạ. Ngày nay người ta quên mất cả danh dự và lương tâm. Năm vừa rồi tôi đã thay đổi bao nhiêu nhà máy da, - đếm trên đầu ngón tay không xuể. Nhưng sản phẩm của tất cả các nhà máy đều giống nhau như đúc, - toàn một thứ da mục!
Cuộc nói chuyện với người thợ giày làm người bán da tự ái. Ông ta bèn đến chất vẫn chủ nhà máy da.
- Tất cả những điều ông nói đều hoàn toàn là sự thật, - người chủ nhà máy nói - nhưng tôi nào có tội tình gì? Trước đây tôi mua được những nguyên liệu tốt cho nhà máy. Còn bây giờ thì thiên hạ chẳng có chút lương tâm nào cả. Mặc dầu họ bán với giá cắt cổ nhưng toàn đồ chết tiệt.
Người chủ nhà máy bèn cho gọi gã lái buôn bán nguyên liệu đến hỏi.
- Đúng là như thế! Quả là như vậy! Tôi nhất trí! - gã lái buôn nói. - Bây giờ da không bền như trước kia. Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do tôi gây nên. Bởi vì chúng tôi mua da của những người chăn nuôi trâu bò đưa đàn gia súc đến lò mổ. Ông anh ạ, không hiểu sao trước kia cả da lẫn lương tâm con người đều bền hơn nhiều.
Người thu mua nguyên liệu gặp người chăn nuôi gia súc. Anh ta nghe xong những lời phàn nàn bèn nói:
- Nhưng tôi có lỗi ở chỗ nào? Nếu như tôi bán da của tôi cho bác thì bác mới có căn cứ trách mắng tôi vì hàng xấu chứ. Đằng này tôi không bán da của tôi mà bán da bò cơ mà. Tôi chẳng rõ bác có tin tôi hay không nhưng ngay cả súc vật cũng mất hết lương tâm. Tôi không có lỗi. Bác đến mà hỏi đàn bò đực ấy.
Những yêu sách vô tận đã làm cho người mua phát ngán. Một hôm anh ta nắm sừng một con bò đực sắp bị giết thịt và nói:
- Này con bò kia, hãy nghe đây. Lương tâm của mi đâu rồi? Mi làm ta phải xấu hổ trước bọn lái buôn. Chính vì mi mà người ta buộc tội tao đủ điều. Trước đây da anh mi bền hơn nhiều. Vậy do đâu mà hiện nay nó không được như vậy nữa.
Bò đực ngoan ngoãn cúi đầu đáp lại:
- Chúng tôi đâu có tội! Hãy lấy tôi làm ví dụ đây này. Tôi cố gắng sao cho sức lực tôi, thịt xương, móng, phân và da của tôi đều có ích cho ông chủ của tôi. Muốn nói gì thì nói chứ cuối cùng tất cả chúng tôi đều bị chọc tiết và bị lột da. Vậy tại sao lại không cho con người tấm da dày hơn và bền hơn nhỉ? Nhưng phải chăng điều đó phụ thuộc vào tôi? Bây giờ thời thế khác rồi. Da chúng tôi ngày nay không được bền như da của cha ông chúng tôi. Vậy thì tôi có thể làm gì được? Bác có biết người ta cho tôi ăn thứ đại mạch như thế nào không? Một nửa là cát. Rơm thì rặt một thứ rơm mục. Trước kia người ta có nuôi chúng tôi như thế đâu! Thức ăn làm sao thì da làm vậy!
Bò đực đâm buồn phiền. Nó bèn đến gặp chủ và rống lên với tất cả sự phẫn nộ.
- Tại sao ông không chăm sóc tôi? Thức ăn thì ông cho ít, lại toàn đồ bẩn thỉu và thiu thối. Do đó xương cốt tôi không rắn chắc, da tôi không dày. Da như thế này không thể dùng để đóng giày tốt được. Trong việc này ông là người có lỗi, ấy thế mà người ta lại trút tội lên họ hàng nhà bò chúng tôi.
- Chú nói chí lí, - người chủ đáp, - nhưng đâu phải lỗi của ta. Chú nên biết rằng mùa màng kém lắm, ta thu hoạch không đủ để nuôi chú. Cho nên ta phải mua rơm và đại mạch của lão Ác - mét. Thời thế bây giờ thay đổi rồi chú mình ạ. Những người ngay thật không còn nữa. Lão lái buôn Ác - mét đã tăng giá hàng nhưng lại bán toàn thứ hàng bẩn thỉu, mục ải. Bởi vậy, bây giờ ta không thể cho chú mày ăn nhiều và ngon như trước kia nữa.
Tuy nhiên lời kêu ca của con bò đực đã khiến cho người chủ động lòng. Ông ta bèn đến chỗ Ác - mét và hỏi tại sao lão lại bán thức ăn cho gia súc với giá đắt và chất lượng xấu như vậy.
- Ông nói đúng, - Ác - mét đáp, - nhưng lỗi này không phải của tôi. Tất cả vấn đề là ở chỗ mọi người đã mất hết lương tâm. Thời thế thay đổi rồi người anh em ạ. Trước đây con trai tôi đi một đôi giày hàng năm mới hỏng, thế mà bây giờ nó mới đi chưa quá hai tháng đã phải quăng vào sọt rác. 

Giày thì xấu mà giá lại đắt. Bây giờ đồ ăn thức uống và quần áo đều như thế cả. Để đủ nuôi gia đình tôi cũng phải làm như những người khác. Nhưng xin ông hãy tin rằng tôi làm điều đó không phải do ý muốn của mình. Tôi đâu có lỗi. Và cái vòng luẩn quẩn lại diễn ra từ đầu.
Lão lái buôn Ác - mét nổi giận chạy đến gặp người thợ giày, người thợ giày đến gặp chủ xưởng, chủ xưởng đến gặp người bán nguyên liệu, người bán nguyên liệu đến gặp người chăn nuôi, người chăn nuôi đến gặp con bò đực, con bò đực đến gặp chủ, chủ đến gặp lão lái buôn Ác - mét.
- Ông nói hoàn toàn đúng, - họ trả lời nhau, - nhưng tôi không có lỗi. Thời thế đã thay đổi. Mọi người đã đánh mất hết cả danh dự lẫn lương tâm rồi.

Lê Sơn dịch. 
nguồn: http://www.nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=972

Thương thay giống lừa chúng tôi

Truyện vui AZIT NÊXIN
Thương thay giống lừa chúng tôi! Thương thay, đúng là lừa thật!... Về chuyện này thì kí ức của chúng tôi hãy còn tươi rói: cũng như cái giống người các anh bây giờ, hồi ấy bộ tộc lừa chúng tôi tôi cũng nói chuyện với nhau bằng tiếng nói riêng. Mà tiếng nói của chúng tôi mới tuyệt vời làm sao chứ. Nó thật du dương và dịu ngọt. Đúng là một thứ âm nhạc, không thể nói thế nào hơn được. Thường hễ chúng tôi cất tiếng nói là trăm loài khác nín hơi nghe. Bây giờ thì chúng tôi cứ phái ráng sức đem tiếng rống của mình mà thể hiện hết mọi ước mong, tình cảm, ý nghĩ, thậm chí là cả những đau khổ nữa. Nhưng làm sao có thể nói nhiều hơn được bằng hai âm tiết "Ế a, ế a"? Hỡi ơi, chỉ còn hai âm tiết ấy là chúng tôi gữi lại được trong toàn bộ kho tàng ngôn ngữ giàu có xưa kia. 
Tôi nói vậy chắc các bạn lại sinh ra tò mò muốn biết có chuyện gì mà đến nỗi tiếng nói của họ lừa lại biến thành từ ngữ như thế. Quả là đã có một sự kiện khiếp đảm mà tôi sắp kể ra đây, cái sự kiện ấy đã cướp đi của chúng tôi trí nhớ và thế là chúng tôi quên phắt ngay mất tiếng nói của mình.


Một cụ tổ lừa già nhà chúng tôi đang gặm cỏ ngoài đồng. Cụ vặt từng nhánh cỏ và ngân nga mấy bài hát nhỏ. Bống nhiên cụ đánh hơi thấy một mùi tanh tưởi hết sức khó chịu - mùi chó sói

Mùi tanh ngày càng tanh hơn. Chó sói đến gần. Cái chết cũng đến gần. Nhưng cụ lừa vẫn khăng khăng tự nhủ:
- Không phải sói đâu. Không có thể lại là sói được.
Nỗi khiếp hãi làm tim cụ thắt lại. Nhưng cụ vẫn làm ra vẻ bình tĩnh và vẫn tiếp tục lẩm bẩm:
- Sáng danh thánh Ala, không phải chó sói. Ở đây lấy đâu ra chó sói mới được chứ.
Đột nhiên cụ nghe thấy tiếng gầm gừ - cái thứ gầm gừ của chó sói - không mấy êm tai. Cụ lừa căng tai lên nhưng lại vẫn cái giọng cũ:
- Không phải sói đâu. Không phải tiếng gừ của sói.
Tiếng gầm gừ đã ở ần bên. Cụ sợ quá quay lại và nhìn thấy trên đỉnh mô đất bên cạnh, trong màn sương mù dày đặc có bóng một con sói.
- Không phải sói đâu. Có lẽ là một bụi cây thôi. Cụ tự trấn an - Ta cứ việc gặm cỏ, sợ gì.

Một chút xíu sau đó con sói đã nhảy ra ngoài bụi rậm

Cụ lừa sợ run lên nhưng vẫn không hề muốn tin rằng đó là chó sói.
- Chó sói ở đây làm gì? Mắt mình có lẽ kém quá rồi. Trông cái bụi rậm hóa thành chó sói.

Chó sói đến gần, cụ lừa sợ dựng tóc gáy.
- Trời đất ơi, chẳng hóa ra là chó sói thật ư?
Không đâu, không có lẽ? Ông cụ rên rỉ - Chắc hẳn là lạc đà đấy thôi. Hay là voi? Hay là một con gì khác? Làm sao lúc nào mình cũng nghĩ đến chó sói nhỉ?

Chó sói chỉ còn cách ba bước. Nó nhe răng và chực lao vào. " Không phải chó sói. Minh tin rằng không phải chó sói. Nhưng tốt nhất là nên chuồn thôi". Cụ lừa nghĩ thế và cắp đuôi chạy.

Chó sói lao theo, rớt dãi đầy miệng

Cụ lừa tăng tốc độ phóng như bay. Chó sói rượt sau không rời một bước.

"Mà không, không phải chó sói đâu. Mèo rừng đấy thôi". Lừa nghĩ bụng, cố ngoái lại sau. Hai con mắt sói rực sáng như hai cục than hồng. Hơi thở của sói nóng bỏng rát ngay bên cạnh. Ấy thế mà cụ lừa nhà chúng tôi vẫn không muốn tin đó là chó sói. Cuối cùng cụ kiệt sức dựng lại, nheo mắt chờ đợi cái gì sẽ tới. Bụng cụ vẫn nói:
- Không phải sói đâu. Sáng danh thánh A la, không phải là sói.

Con sói lao vào cụ , quật cụ xuống đất.
Tôi biết, anh không phải là sói. Cụ lừa kêu lên - Đừng cù buồn tôi, tôi không thích cù đâu

Chó sói phóng hai hàm răng vào mông cụ, rứt ra một miếng thịt lớn. Đến thế cụ mới hiểu ra rằng cơ sự đã nguy ngập lắm rồi. Khiếp hãi quá, cụ quên hẳn ngôn ngữ của mình. Cụ không còn nhớ một tiếng lừa nào nữa. Chó sói thì vồ cụ hết keo này đến cú khác. Máu cụ tuôn ra như suối. Bấy giờ cụ mới kêu bật lên:
- A...a...a! thế ra là sói. Thế ra.... thế ra....

Chó sói rứt từng miếng thịt cụ, còn cụ rên lên ai oán.
- Thế ra.... thế ra... Những tiếng thế a của cụ vang vọng khắp chốn sơn lâm. Từ ngày đó cả họ lừa chúng tôi quên mất tiếng nói. Mọi ý nghĩ và tình cảm bây giờ chúng tôi chỉ biểu lộ bằng cách rống lên mà thôi. Giá cụ lừa nhà chúng tôi hồi ấy không tự huyễn hoặc mình lúc tai họa ập đến, thì có phải bây giờ chúng tôi vẫn còn có tiếng lừa mà nói hay không

Thương thay giống lừa chúng tôi. Thương thay chúng tôi, bộ tộc nhà lừa, ế a, ế a...
ĐỨC MẪN(dịch) nguồn: http://www.nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=972

Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Tại sao tờ báo bị đóng cửa

Ở nước ta... (Không, mở đầu như thế không được) ở đất nước chúng ta... (Vẫn không ổn; những truyện ngắn có câu mở đầu như vậy thường có kết thúc dở; và tác giả của chúng cũng không được hoan nghênh).
Trong nước của ta... (Không,tốt nhất không nên viết về ta, chả lẽ không có các đề tài khác sao? Hãy chỉ nên viết về những gì có thể viết).
Ở Thổ Nhĩ Kỳ... (Này, anh bạn, đừng viết thẳng thừng như thế, phải viết mềm đi một chút).
Tôi kể về một trường hợp trong đời làm báo của tôi nhưng không biết mở đầu như thế nào.
Một lần... (Như vậy có lẽ được. Anh còn phải học viết nhiều nếu cuộc đời của anh còn khá dài) một tờ báo nơi tôi làm việc bị đóng cửa. (Cách nói đạt đấy: "bị đóng cửa", nghĩa là không biết bị ai đóng cửa, vì thế hồ sơ sẽ bị xếp vào loại những tội ác không điều tra được và thời gian sẽ bị quên lãng).
Tôi tiếp tục.
Tờ báo bị đóng cửa vì một sai sót. Cái sai sót này có giá trị tư liệu không thể tranh cãi và hoàn toàn xứng đáng ghi vào lịch sử báo chí.
Các bạn chắc đã nghe nói đến hai sai sót nghiêm trọng đã được ghi vào lịch sử báo chí thời cộng hòa.
Đây là một trong số đó.
Trên trang nhất tờ báo có đăng hai bức ảnh, mỗi bức choán hẳn hai cột báo. Bức thứ nhất chụp những con bò được giải thưởng tại hội chợ triển lãm với những chiếc sừng được thắt nơ đỏ; bức thứ hai chụp đoàn đại biểu quan chức nhà nước trước lúc lên đường tham quan châu Âu... Lời chú thích dưới 2 tấm ảnh bị đặt lộn.
Lời chú thích dưới tấm ảnh chụp các thành viên đoàn đại biểu ghi: "Người ta đã trao giải cho chủ nhân của những con bò được giải tại hội chợ. Trong ảnh là giống bò trong nước được nuôi dưỡng tốt"
Chú thích dưới ảnh kia ghi là: "ở đây các bạn nhìn thấy đoàn đại biểu trước lúc lên đường thăm châu Âu".
Những sai sót kiểu như vậy trong báo chí của ta nhiều vô kể; nhưng chưa bao giờ xảy ra chuyện nhầm đàn bò với đoàn đại biểu chính phủ. Song cái sai sót mà tôi sắp kể cho các bạn nghe sau đây hoàn toàn không có liên quan gì đến những con bò...
trích : "Tại sao tờ báo bị đóng cửa "-Aziz Nezin - nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ sinh 1915

Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Giấc mơ Mỹ (Aziz Nesin)

Giấc mơ Mỹ (Aziz Nesin)
Tôi nằm mơ thấy mình là một nhân vật quan trọng đi thăm Oasinhtơn. Những người Mỹ đã đón tôi một cách trọng thể. Đáp lời một ông chủ nào đó tôi đã đọc một bài diễn văn dài:
-Chúng tôi... Các ngài... Từ chúng tôi - gửi tới các ngài... Từ ngài đến chúng tôi... Nhờ sự giúp đỡ... Cả chúng tôi lẫn các ngài... Tất cả những gì ở nước chúng tôi...Chúng tôi và các ngài... Cùng sát cánh... Cuộc đấu tranh... Đối với các ngài... Nhân đạo... dân chủ... Chúng tôi... Tự do... Các ngài... Đô la và các ngài?... Không bao giờ!... Chúng tôi muôn năm!...
Những tràng pháo tay vang dội. Những phóng viên chớp máy lia lịa chụp hình tôi. 
Một trong những chính khách lớn của Mỹ tuyên bố:
-Lịch sử quan hệ quốc tế chưa bao giờ được nghe những lời diễn văn nào tuyệt vời hơn những lời ngài vừa phát biểu. Xin chúc mừng...
Cuộc duyệt đội danh dự bắt đầu. Tôi chào mừng, như người ta thường chúc mừng "những lực lượng vũ trang nhưng không vũ trang" của Mĩ. Nói thật, mắt tôi cứ trố ra. Bên phải tôi là những cô gái tóc vàng bốc lửa, bên trái tôi là những cô gái tóc đen khêu gợi, xa hơn chút là những quả bom khinh khí, bom cooban. Đằng sau chúng là những hoa hậu bán kem, hoa hậu bán rau, hoa hậu áo tắm, hoa hậu "câu lạc bộ người hâm mộ".
Bỗng người ta bảo tôi:
Xin mời Ngài vào Nhà trắng.
Hóa ra tôi phải chủ trì một cuộc họp báo. Những nhà báo vây quanh tôi tranh nhau hỏi.
Tôi ngăn họ lại:
-Chỉ xin các vị đừng hỏi cùng một lúc. Chúng ta không phải đang ở trong nhà tắm nữ... Xin hỏi từng người một.

Một vị tổng biên tập cộng tác cùng một lúc cho ba mươi sáu tờ báo của Mĩ muốn biết:
-Một tổng biên tập ở nước Thổ Nhĩ Kỳ của ngài viết một lúc cho bao nhiêu tờ báo?
-Ở nước chúng tôi, - tôi đáp - mỗi tờ báo đều có một tổng biên tập của mình, nhưng tất cả họ đều viết một giọng giống nhau.
-Làm sao những người khác nhau lại có thể viết cùng một giọng giống nhau?
-Thế nào là "khác nhau"? ở nước chúng tôi không có chuyện như vậy. Ở nước chúng tôi tất cả đều thống nhất, đoàn kết, vân vân và vân vân. Các vị hiểu chứ?
-Thế nước các ngài có dân chủ không?
-Dân chủ đó là cho nhân dân, vì nhân dân, từ nhân dân, trong nhân dân... và vân vân theo tinh thần như thế.
Một phóng viên của tờ báo có lượng phát hành hai triệu bản hỏi:
-Dân chúng nước ngài hiện đang quan tâm những sự kiện quan trọng nào?
-Ồ có những sự kiện như vậy nhiều lắm!... Thứ nhất là vấn đề những chiếc váy ngắn của phụ nữ. Nó làm cả nước chúng tôi náo động khiến mọi người quên đi cả chuyện thiếu đường, thiếu cà chua, dân chủ và nhiều thứ khác :-D .Thứ hai, từ bé đến lớn đều chờ đợi xem cầu thủ bóng đá Chetin có được chuyển từ đội "Fenebarche" sang đội "Vefa" không. À, suýt nữa thì quên!... Nước chúng tôi vừa đóng xong tàu thủy "Abidin Daver", nhưng xảy ra sự cố : người ta không làm sao hạ thủy được nó ra khỏi cái triền đà.
-Tại sao vậy?
-Vì đúng vào lúc giờ hạ thủy bắt đầu thì xuất hiện một diễn giả. Ông ta bắt đầu nói và nói liên tục cho đến tận lúc trời tối, khi mỡ bắt đầu khô trên các triền đà. Thế là chúng tôi làm sao cho hạ thủy chiếc tàu được.. Lúc đó chúng tôi mới quyết định: một khi đã Không làm cách nào cho tàu xuống nước được thì sẽ kéo biển vào sát bờ... (hết trích)

Vì sao mèo cúp đuôi chạy?

Azít Nêxin
Vì sao mèo cúp đuôi chạy?
Bất kỳ việc gì cũng có cái "tại sao"của nó.
Không, câu mở đầu như thế chưa được! Phải bắt đầu bằng 1 câu gì nghe triết lýhơn kia! Hay thế này vậy: "Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc, người tacần phải được trở về trạng thái bình tĩnh."
Thực ra thì câu này nghe cũng chưa ổn. Có lẽ những lời nói vĩ đại chỉ có ởmiệng các bậc vĩ nhân mà thôi! Chính vì thế mà lúc nào tôi cũng thấy thương chocái thân phận mình. Truyện nào tôi cũng bắt đầu bằng 1 câu đáng được lưu truyềnthiên cổ. Thế mà tuyệt đối không 1 ai thèm coi cả tôi lẫn những lời nói của tôira cái gì cả! Mà bạn tưởng các bậc vĩ nhân phát ra được những câu gì đặc biệtlắm sao? Có 1 bậc vĩ nhân bảo: "Mùa hè nóng." Thế là mọi người rốirít ca tụng: "Trời ơi! Chí lý biết chừng nào, sâu sắc biết chừng nào! Cáichân lý vĩ đại mà nhân loại phải tìm kiếm hàng trăm năm nay, đã được Ngài nóira trong 3 chữ!"
1 vĩ nhân khác trước lúc tắt thở thốt lên: "Mở cửa ra!". Người ta lạiđưa nhau bình phẩm: "Chà! Cả 1 ý tưởng vĩ đại chứa đựng trong câu nóithiên tài! Chỉ bằng mấy chữ, nhà tiên tri đã vạch đường cho hậu thế!"
"Mở cửa ra!" Câu đó nghĩa là gì?
Muốn hiểu hết ý nghĩa thâm thuý của mấy chữ này cứ gọi là phải viết hàng núisách! Vì thâm ý vĩ nhân muốn nói rằng...
Mà đã là bậc vĩ nhân thì Người muốn nói gì? "Này hỡi nhân loại! Đừng có rurú trong cái xó chuồng tăm tối như bầy lừa ấy nữa! Hãy mở cửa ra cho ánh sángkiến thức rọi chiếu vào!"
Hoặc giả Người ta muốn nói: "Hãy mở cửa ra mà nhìn thế giới! Cho ánh sángkiến thức soi rọi vào cái đầu óc ngu dốt của các người!"
Thế nhưng cũng như tất cả mọi người bình thường khác, trong lúc hấp hối thấykhó thở, nên bậc vĩ nhân yêu cầu "mở cửa ra" cho dễ thở hơn chút. Cóthế thôi!
Sau này chết đi, sang bên kia thế giới, việc trước tiên là tôi phải tìm ngayGớt và hỏi ông:
-Người ta bảo trước lúc vĩnh biệt cõi trần, ngài có noi: "Vén rèm lên chosáng thêm 1 chút!" Vậy ngài nói câu ấy là có ý sâu xa gì không?
Tôi chắc thế nào Gớt cũng mỉm cười mà bảo:
-Thật tôi có nói "Cho sáng thêm 1 chút" à? Chắc vì lúc đó tôi thấymắt tự nhiên tối sầm lại, nên bảo vén rèm lên để nhìn rõ mọi người xung quanh.Thế thôi!
...Tôi đang đi trên đường. Bỗng từ ngôi nhà nọ, 1 chú mèo phóng như bay, rồithoáng sau thì mất hút. Chính vì chú mèo này mà tôi cứ phải suy nghĩ mãi. Vìsao nó lại gào lên 1 cách thảm thiết như vậy? Bất kỳ chuyện gì, như tôi đã nói,cũng có cái tại sao của nó. Vậy thì tại sao chú mèo cúp đuôi chạy?
Đó chính là câu chuyện tôi sắp kể cho các bạn nghe bây giờ đây. Tôi sẽ thuậtlại đầy đủ, theo đúng trình tự. Có điều tôi không biết nên chọn phương pháp nàocho thích hợp? Phương pháp dân chủ, từ dưới lên trên, hay phương pháp truyềnthống phương Đông, từ trên xuống dưới? Nghĩa là bắt đầu từ chú mèo đến ngàiTổng trưởng, hay từ ngài Tổng trưởng xuống đến chú mèo? Không! Dẫu sao thì cũngkhông nên bỏ các truyền thống của ta!
Vậy thì đầu đuôi câu chuyện của chúng ta nó như thế này:
1 hôm, tất cả các báo, cứ y như là bảo nhau, nhất loạt lên tiếng công kích 1 vịTổng trưởng nọ. Điều đó, làm vị Tổng trưởng hết sức đau buồn, đến nỗi Ngàikhông biết làm gì nữa. Mà hễ khi nào thấy buồn bực trong lòng và không biết làmgì nữa, là y như rằng ngài cho gọi ông phụ tá đến... Ngài đặt cho ông ta 1 câuhỏi. Ông phụ tá trả lời. Ngài lại đặt câu hỏi khác. Ông phụ tá lại trả lời rấtrành rọt. Thành ra Ngài không có cớ gì để trút nỗi bực lên đầu ông ta được.Nhưng chết cái là, dù thế nào thì thế, sau lúc bực dọc, người ta cần chết cáilà, dù thế nào thì thế, sau lúc bực dọc, người ta cần phải được trở về trạngthái bình tĩnh! Ngài Tổng trưởng lại đọc tiếp câu hỏi thứ 3. Ông phụ tá tườngtrình lại cận kẽ cách thức ông giải quyết công việc đó ra làm sao. Thế là cơndông tố nổ ra! Không phải làm như thế! Làm như thế là không được! Hoàn toànkhông thể được!... Có thể được chứ ạ! Không thể được!... Được chứ ạ! Khô...ô...ng đ.ư.ợ.c! Ngài Tổng trưởng hả lắm: thế là cuối cùng ngài đã nguôi đượccơn giận. Ngài đã xạc cho ông phụ tá 1 trận nên thân. Bây giờ ngài mới cảm thấybình tĩnh lại.
"Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc người ta cần phải được trở về trạngthái bình tĩnh." Nhưng ông phụ tá làm thế nào để bình tĩnh lại được? Xintừ chức à? Không được! Vì cớ gì? Ông bèn hỏi ông chánh văn phòng 1 câu. Ôngchánh văn phòng trả lời. Ông hỏi tiếp câu nữa. Ông chánh văn phòng vẫn trả lờiđược. Nhưng được thì được, chứ trong lúc trả lời, ông chánh văn phòng vẫn khôngtránh khỏi sơ xuất. Xong rồi! Ông phụ tá cho gọi viên thư ký đến.
-Viết đi! Ông ra lệnh cho người thư ký.
Ông phụ tá đọc cho người thư ký chép 1 lúc lâu và thấy cơn giận nguôi dần. Lạytrời! Giá ông không trút bỏ được nỗi bực thì ruột gan ông đến vỡ tung ra mất!Rồi cả gia đình ông cũng vì thế mà mất hết bình tĩnh, sẽ quay ra cáu gắt nhaumất!
May lắm! Nhưng còn ông chánh văn phòng thì biết làm sao đây? Làm sao đây? Làmsao ông có thể ngậm viên bồ hòn ông phụ tá vừa tặng ông mà lấy làm ngọt được!Ông bèn ấn nút chuông:
-Gọi cho tôi ông thanh tra Ali vào đây!
-Thưa ông, ông Ali đi thanh tra đã 10 hôm nay rồi ạ!
-Thì gọi ông Vêli!
-Thưa ông, vâng.
Ông thanh tra Vêli vào:
-Bẩm ông cho gọi tôi?
-Ông đã làm xong cái việc tôi giao chưa?
-Bẩm ông đã ạ!
-Còn việc kia?
-Bẩm việc kia cũng xong rồi ạ!
-Ông nói rõ xem xong là xong thế nào?
Ông Vêli trình bày lại cặn kẽ đầu đuôi.
-Nhưng có phải làm như thế đâu? Hoàn toàn không phải! Ai bảo ông làm như thế?Làm thế là láo toét! Láo toét hết! Ông hiểu chứ? Ôi! Lạy Đức Ala!
Ông chánh văn phòng gắt ngậu cả lên. Vì nếu không gắt thế, ông đến tắc thở mất!
Đến lượt ông thanh tra thấy tức quá! Nhưng biết làm thế nào? Chả lẽ chịu cảm à?Không! Thế này thì tức lắm, không chịu được!
-Ông trưởng phòng!
-Dạ, ông bảo gì ạ?
-Sáng nay tôi dặn ông cái gì?
-Sáng nay ạ? Bẩm ông không có dặn gì cả!
-Vô lý, không có lẽ!
-Sáng nay nào tôi có gặp ông đâu ạ!
-Nếu vậy thì sáng hôm qua?
-Hôm qua ông bị mệt không đến sở ạ.
-Thế thì sáng hôm kia!
-Sáng hôm kia ông có dặn là...
-Nghĩa là tôi có dặn chứ gì? Nhưng tôi dặn cái gì mới được chứ? Tại sao ôngkhông làm tròn trách nhiệm? Thái độ của ông như vậy là không thể dung thử được,ông hiểu chưa? Không thể được! Tôi cấm đấy!... Cương quyết cấm!
Mặt ông trưởng phòng dài thưỡn ra. Nhưng dù thế nào thì thế, sau lúc bực dọc,người ta cần phải được trở về trạng thái bình tĩnh.
-Gọi ông phó phòng vào đây!
Ông phó phòng vào. Ông trưởng phòng hỏi:
-Biểu "Đ" ông làm xong chưa?
-Thưa ông đã!
-Xong toàn bộ chứ?
-Xong toàn bộ ạ!
-Thế các tờ phiếu đã ghim lại với nhau chưa?
-Ghim rồi ạ!
Làm gì mà cứ phải đúng răm rắp thế nhỉ?
-Thế gửi đi chưa?
-Thưa đã ạ!
Cứ làm như không thể chậm lại được ấy!
-Gửi bao giờ?
-Hôm qua ạ!
-Sao? Hôm qua à? Sao lại chểnh mảng đến thế được nhỉ? Cái kiểu đâu lại đổ đốnnhư vậy? Phải làm việc chứ! Làm việc! Làm việc hàng ngày! Tôi yêu cầu ông! Ôngrõ chưa?
Chao ôi! Khi trút được cơn bực, người ta cảm thấy nhẹ nhõm làm sao!
Ông phó phòng bước vào phòng ông trưởng bộ phận. Ông thở 1 cách nặng nhọc.
-Cái gì thế này?
-Chứng từ để chuyển sang phòng kế toán đấy ạ!
-Ra thế đấy!... Thế là rõ rồi. Đến giờ mà vẫn còn ngổn ngang bừa bãi thế này...Lại còn cả đống này nữa này...
Ông phó phòng vừa bước ra, ông trưởng bộ phận tức giận đấm bốp 1 cái xuống bàn:
-Haxan đâu?
-Haxan nào ạ? Haxan bộ phận 2 hay Haxan kế toán ạ? Lại còn Haxan làm ở phòngđăng lục nữa ạ! Hay ông muốn gọi ông Haxan lục sự?
-Lôi cổ đến đây bất cứ thằng Haxan nào cũng được! Nghĩa là cứ gọi cho tôi tayHaxan lục sự ấy!
-Thưa ông đã có chuông nghỉ, ông ấy đi ăn cơm rồi ạ!
-Nếu vậy... anh tên là gì?
-Huyxên.
-Huyxên hay Muyxên cũng vậy thôi! Tôi bảo cho các anh biết, tất cả lũ cácanh...
Ông trưởng ban nổi trận lôi đình khoảng 10'. Cuối cùng ông thấy nguôi giận, rờikhỏi sở.
Còn Huyxên thì quay sang hạch sách ông văn thư. Cửa kính sao lại bẩn thế này?Trần nhà gì mà đẩy mạng nhện thế kia? Bàn nào cũng đầy bụi. Sàn nhà thì chẳngchịu lau chùi gì cả... Không thể chịu được! Không chịu được! Hiểu chưa? Hả!...
Ra khỏi sở, Huyxên cũng thấy nhẹ nhõm hẳn, cái nhẹ nhõm hẳn, cái nhẹ nhõm củangười trút bỏ được cái ác bông nặng trĩu khi vụ rét vừa hết.
Ông văn thư định trút giận lên đầu người gác cửa, nhưng ông này lại về nhà mấtrồi. Làm sao bây giờ? Dù thế nào thì thế, sau cơn bực dọc, người ta cần phảiđược trở về trạng thái bình tĩnh. Ông văn thư bước lên xe điện.
-Cái nhà anh này! Dẫm cả vào chân người ta! - ông bắt đầu sinh sự với ông kháchđứng bên cạnh - Chân cẳng cứ xéo bừa đi, chẳng nhìn gì hết!
Ông khách im không nói.
Người soát vé tiến đến.
-Ông lấy vé đi!
-Anh không thấy tôi đang bị ép thế này à? Cả 2 tay đều không nhúc nhích nổi thìlàm sao mà rút được ví? Lúc nào xuống tôi sẽ mua!
-Không được!
-Sao lại không được?
-Đã bảo không được là không được! Ngộ nhỡ nhân viên kiểm tra đến thì làm sao?
Thế là thành to tiếng. Rốt cuộc, ông văn thư cũng tìm được người để trút giận.
Hết chuyến cuối cúng, người soát vé trở về nhà. Chị vợ toét miệng cười khi thấyanh về.
-Làm cái gì mà nghe răng như cái con khỉ thế? - anh soát vé bỗng thấy điên tiết- Cái thằng bố mày đây đứa nào cũng bắt nạt được, mà mày còn...
Chửi mắng vợ 1 trận nên thân xong, anh ngồi vào bàn điềm nhiên xới cơm ăn.
Chị vợ thì bắt đầu thút tha thút thít. Trong lúc đó, chú mèo cứ quẩn dưới chân.Cáu tiết, chị đá cho nó 2 cái vào lưng. Thế là chú mèo ngheo lên 1 tiếng thảmthiết rồi nhảy bổ ra đường.
Chị vợ anh soát vé nép sát vào người chồng. Tình yêu đằm thắm nhất thường đếnsau nước mắt. Cả đôi đều đã bình tâm lại.
"Bấy kỳ việc gì cũng có tại sao của nó". Ví thử các báo đừng côngkích ngài Tổng trưởng, thì việc gì chú mèo tội nghiệp nhảy bổ ra đường!
Con người dù sao cũng khôn ngoan, biết cách trở về trạng thái bình tĩnh. Nhưngcòn chú mèo? Chú nhảy bổ đi mất như hoá dại. Liệu rồi chú có lấy lại được bìnhtĩnh hay không?
Điều ấy đến bây giờ tôi vẫn chưa dám chắc.

Chúng ta cùng bay lên mặt trăng Aziz Nesin

Qua báo chí chúng ta biết dường như ở Mĩ có các tổ chức và các hội rất độc đáo, kiểu như "Hội những người có sáu ngón chân", "Hội những người đàn ông có cỡ chân từ 47 trở lên", "Hội những ông chồng bị vợ đánh đập hàng ngày" và vân vân...
Nhưng chúng ta đâu có kém gì họ? Đây này, mới đây nước ta đã thành lập "Hội những người bay lên mặt trăng". Và tôi thích cái hội này. Vì không nói gì đến Pari hay Nữu Ước, mà ngay cả Ankara hay In dơ mia tôi cũng không thể nào đi nổi. Cuộc hành trình dài nhất mà tôi có khả năng thực hiện là theo tuyến tàu điện Sisli -Sirkeyzhi. Vậy thì một khi tôi không có khả năng đi đâu xa thì ít nhất tôi cũng sẽ bay lên mặt trăng vậy.
Thế là tôi trở thành hội viên của "Hội những người bay lên mặt trăng". Tôi trở về nhà trong lòng tràn ngập một niềm hi vọng, sung sướng về tương lai, với một ước mơ bay lên mặt trăng. Tôi ráng sức ăn. Sau khi đã no căng bụng tôi ra ngồi cạnh lò sưởi và lập tức thiếp đi. Và tôi cảm thấy hình như dưới lớp da của tôi không còn thịt xương và máu nữa, mà thay vào đó là một thứ khí nhẹ tựa như khói lửa từ rơm. Rồi tôi bắt đầu bay lên cao, như một quả bóng bay bị thả dây ra.
-Bay đi, bố, bay đi!...
Tôi bay mỗi lúc một cao hơn...
Lúc đầu tôi bay cao hơn "giá củi", sau đó bay đó bay cao hơn "giá thuê nhà", rồi tiếp tục bay cao hơn các thứ "giá ở chợ đen".
Rồi tôi bắt đầu ngân nga một bài hát gì đó, rất tự nhiên, chẳng có một nguyên cớ gì cả.
Nhưng khi đạt tới độ cao nhất định, thì toàn bộ khí ga chứa trong người tôi bắt đầu thoát ra qua tất cả những cái lỗ trên cơ thể tôi. Tai họa... Không lấy gì làm thích thú lắm khi đã bay lên được cao như thế thì bỗng bị rơi xuống đất và điều đó cũng là điều thường xảy ra với những người đang say sưa với thành tích bỗng bị rơi xuống từ đỉnh cao quyền lực... Vì nợ nần và ăn uống tồi tệ, người tôi bị thủng nhiều chỗ đến nỗi tôi vừa che giấu được nỗi xấu hổ ở một chỗ này thì lại xuất hiện lỗ thủng ở chỗ khác...
Thế là tôi hét tướng lên:
-Cứu tôi với!...
-Hãy cắn chặt răng lại, sắp đến trăng rồi. -tôi nghe thấy một giọng nói.
-Cắn răng thì không khó, nhưng các lỗ thủng ngày càng nhiều, không thể nào bị hết được. Hãy cho người nào đến giúp tôi, không tôi rơi mất...
-Nhà nước mặt trăng đây... Chúng tôi sẽ gửi cho ông hai bao khói tàu thủy.
Nhờ sự giúp đỡ này tôi bay lên được ngay và đáp xuống mặt trăng.Những người hoàn toàn giống như chúng ta ùa ra vây xung quanh tôi.
- Nhiệt liệt hoan nghênh,
- Cảm ơn....
Người ta đặt tôi ngồi vào một cái vật gì đó. Chưa kịp chớp mắt chúng tôi đã đến một thành phố lớn. Người ta dẫn tôi vào một ngôi nhà lớn trên có treo tấm biển "Đại học tổng hợp Mặt trăng"
...................................................................................................................

Ở đây chật cứng người ...Họ ngồi rất im lặng. Người ta kéo tôi lên bục diễn đàn. Vị giáo sư nói với đám thính giả đang háo hức chờ đợi.
-Các bạn đang nhìn thấy trước mặt là người đại diện của thế giới động vật trên Trái đất mà tôi đã nói đến trong bài giảng trước. Những người đại diện của giới động vật trên Trái đất cho rằng Mặt trăng là một mảng tách ra từ Trái đất của họ. Nhưng sự thực hoàn toàn ngược lại. Cách đây 50 nghìn năm ánh sáng trên Mặt trăng số người điên và người mất trí tự nhiên tăng vọt. Chúng ta đã cho xây các nhà thương điên và lập tức những nhà thương này chật ních ngay. Và những người mất trí cứ ngày càng nhiều hơn. Điều tồi tệ hơn nữa là chúng làm hư hỏng con cái chúng ta, làm lầm lạc cả những người tỉnh táo. Và người ta tìm mọi cách để cách ly bọn chúng nhưng không có kết quả. Người ta tống chúng lên núi cao, đẩy chúng lên sa mạc, nhốt vào các trại giam cũng không ăn thua. Cuối cùng để thoát khỏi bọn người điên mất trí này người ta quyết định quẳng chúng đi một nơi xa hẳn Mặt trăng. Chúng ta bẻ một mẫu xấu xí nhất của Mặt trăng và vứt nó vào khoảng không. Thế là trái đất hình thành từ đấy.
Chúng ta ném xuống đấy những kẻ điên và mất trí. Như vậy Trái đất là một ngôi nhà điên. Từ đó chúng ta cắt đứt liên lạc với bọn người điên, cắt đứt mọi quan hệ với chúng. Để tồn tại, đám người điên cần có một bầu khí quyển hôi hám và độc hại. Vì thế khoảng không xung quanh Trái đất được chúng bao bọc bởi không khí. Và những cư dân ngày nay của Trái đất không thể sống mà không có không khí.
Những thính giả từ đầu đến giờ vẫn ngồi im lặng theo hàng lối bất ngờ đứng bật dậy, nắm chặt tay và gào lên: " Đồ vi trùng! Vi trùng!"
Vị giáo sư nói tiếp:
-Vậy là, khi vứt bỏ những người điên đi chúng ta đã ném nhầm xuống Trái đất một số người thông minh. Dần dần ở đó xuất hiện con cháu của những người thông minh này. Nhưng những con người điên rồ của Trái đất lại coi những người thông minh ấy là người điên và giam họ vào các nhà thương điên.
Đám thính giả càng sôi máu, có những tiếng hét to: "Treo cổ hắn lên, Chặt đầu hắn đi!"...
Mọi vật xung quanh trở nên hỗn loạn. Họ xông vào tôi. Có đôi tay của ai đó bóp chặt lấy cổ tôi...
Tôi đã bắt đầu phát ra những tiếng rên trước khi chết
Nhưng bỗng có người lay lay tôi: 
-Bố, bố ngáy to quá!...
Tôi mở choàng mắt. Hóa ra tôi đang thiếp đi bên lò sưởi.
-Ôi! Trái đất vẫn còn tồn tại...  Thái Hà dịch.

Mảnh sắt gỉ trong kho báu Aziz Nesin

Vào một thời kì xa xôi ở một xứ sở kia không có cái gì cả. Xứ sở này có một quốc vương. Quốc vương có một kho báu. Trong kho báu, theo lưu truyền, có giữ một báu vật vô giá duy nhất của đất nước. Dân chúng ai cũng tự hào về cái vật báu do tổ tiên để lại. "Dù chúng ta không có cái gì, nhưng tổ tiên đã để lại cho chúng ta gìn giữ một báu vât." -Họ huênh hoang như vậy mà quên đi những khó khăn túng thiếu của mình.
Vì cái báu vật này không thuộc về một người nào, cũng chẳng phải của hai người, mà là tài sản của toàn thể dân chúng, nên mỗi người đều cho rằng trong cái báu vật ấy có phần của mình, vì thế bằng niềm tin và sự thật họ ra sức bảo vệ gìn giữ nó.
Mặc dù báu vật ấy là tài sản của toàn dân, song nơi gìn giữ thích hợp nhất đối với nó là kho tàng của quốc vương. Những người lính gác có vũ trang ngày đêm túc trực bảo vệ kho báu. Thậm chí một con chim cũng không thể bay qua nơi cất giữ báu vật.
Quốc vương và các vị đại thần - tất cả những người có thế lực trong hoàng cung - năm nào cũng vào một ngày nhất định làm lễ tuyên thệ trung thành với báu vật mà tổ tiên để lại.
Một hôm quốc vương bỗng nảy ra ý muốn được xem cái báu vật mà nhân dân phải gìn giữ như con ngươi của mình ấy là vật gì. Ngài khao khát muốn nhìn thấy cái vật cất trong hộp linh thiêng ấy. Cuối cùng không nhịn được ngài đi đến kho báu. Những người lính canh cho ngài vào. Quốc vương, thừa tướng và các vị đại thần bao giờ cũng được tự do vào kho để kểm tra xem cái vật báu mà họ có trách nhiệm bảo vệ có còn trong hộp hay không. Để nhìn thấy cái hộp linh thiêng ấy phải bước vào phòng thứ nhất từ đó sang phòng thứ hai, rồi lại tiếp một phòng nữz, cứ như vậy phải đi qua bốn mươi phòng, và đến phòng thứ bốn mốt mới là phòng cất giữ những chiếc hộp quý, hộp nọ lồng hộp kia. Còn vật báu thì nằm trong chiếc hộp thứ bốn mốt.
Quốc vương đã mở hết bốn mươi cánh cửa. Ngài bước vào phòng thứ bốn mốt. Ngài mở hết bốn mươi chiếc hộp xong thì hồi hộp cầm lấy chiếc hộp thứ bốn mốt. "Không biết cái vật báu mà chúng ta gìn giữ bao nhiêu năm nay là vật gì đây?" -Ngài hồi hộp tự hỏi mình.
Khi ngài mở nắp ra thì trước mắt ngài hiện ra một báu vật đẹp chưa từng thấy trên đời này. Nó đỏ rực như lửa, vàng không phải vàng, bạch kim không phải bạch kim, lại càng không phải bạc. Quốc vương không kìm nổi lòng thèm muốn. "Ta sẽ lấy cái báu vật này và thay vào nó là một mãu bạch kim có khảm ngọc trai và đá quý. Chưa ai được nhìn thấy vật báu nên mọi người sẽ không thể pháp hiện ra sự đánh tráo này."
Quyết định thế nào ngài làm đúng như vậy. Sau đó, ngà lần lượt nét tất cả các cái hộp vào nhau, đóng lần lượt tất cả các cửa phòng lại, rồi bước ra ngoài.
Tuy đã ra đến ngoài nhưng có ai bảo đảm cái vật báu giả kia bị phát hiện? Để không ai biết ngài đã ăn cắp vật báu, từ hôm đó quốc vương ra lệnh hàng năm phải làm lễ cầu nguyện hai lần, chứ không phải một lần như trước. Từ đó mỗi năm hai lần quốc vương và toàn thể thần dân lại tập trung trên quảng trường thề trung thành và bảo vệ vật báu thiêng liêng do tổ tiên để lại.
Người ta nói thừa tường là người đa mưu túc trí. Ông cứ nghĩ và phỏng đoán mãi về chuyện tại sao quốc vương bỗng ra lệnh phải cầu nguyện mootjnawm hai lần, trong khi trước đây chỉ một lần là đủ.
"Mà cái báu vật mà chúng ta phải gìn giữ ấy thực ra là vật gì nhỉ?" - Thừa tướng nghĩ. Cuối cùng, không chịu được , ngài đến kho tàng. Sau khi đi qua bốn mươi phòng và mở bốn mươi chiếc hộp ngài nhìn thấy một báu vật. Miếng bạch kim lớn có khảm ngọc mà quốc vương để vào đấy thay cho báu vật làm cho thừa tướng sửng sốt. "Ta phải lấy cái báu vật này, - ngài nghĩ, - và thay thế bằng một miếng vàng có chạm đá quý. Vì không ai biết báu vật ấy là vật gì. Giả sử có ngày nào người ta mở cái hộp ra thì cũng không ai nghĩ rằng báu vật đã bị đánh tráo!"
Nói là làm. Nhưng sợ việc đánh tráo bị phát hiện nên ngài xin với quốc vương cho tổ chức lễ cầu nguyện thường xuyên hơn. Vậy là người ta bắt đầu cầu nguyện bốn lần trong năm, vào các mùa xuân, hạ, thu, đông.
Một trong các vị đại thần nghe nói cũng là người khôn ngoan. Ông này cũng suy nghĩ tại sao bỗng dưng lại làm lễ cầu nguyện bốn lần trong năm trong khi cách đây không lâu mới chỉ có hai lần. Sử dụng quyền hạn của mình và cũng không nói với ai lời nào, một hôm ông cũng đến kho báu. Sau khi qua bốn mươi gian phòng và mở ra bốn mươi mốt chiếc hộp ngài nhìn thấy thước mắt một vật bằng vàng lóng lánh có chạm đá quý. "Hay là ta thay vào đay mẫu bạc, vì cũng chẳng ai biết được?" Nghĩ sao ngài làm như vậy.
Sợ việc ăn trộm có thể bị phát hiện ngài lại quyết định bắt dân chúng phải cầu nguyện mỗi tháng một lần. Làm như vậy ngài muốn chứng minh lòng trung thành của mình với báu vật tổ tiên.
Từ đó dân chúng bắt đầu tập trung ở quảng trường mỗi tháng một lần và mọi người đều thề nguyền sẽ bảo vệ vật báu đến giọt máu cuối cùng.
Vị đại thần trông coi hoàng cung cũng là người biết suy nghĩ. Khi thấy buổi lễ tăng lên mỗi tháng một lần, ngài nghĩ: "Trong chuyện này có cái gì hơi lạ. Ta phải đi xem cái vật đó là vật gì." Ngài đi qua bốn mươi mốt gian phòng và mở ra bốn mươi mốt cái chiếc hộp và nhìn thấy vật quý. Vừa nhìn thấy ngài đã thích ngay. Và ngài nghĩ bụng: "Hay là ta đem đánh tráo nó bằng một miếng đồng? Ai biết được?" Nghĩ thế nào ngài làm thế. Nhưng sau đó ngài cũng sợ bị phát hiện. Nên ngài quyết định tăng số buổi cầu nguyện lên mỗi tuần một lần.
Viên đội trưởng đội canh gác cho kho báu cũng nghĩ: "Sao lại như thế nhỉ? Tuần nào cũng thề nguyện trung thành. Ta phải xem trong đó cất cái gì?"
Như mọi người khác anh ta cũng đi qua bốn mươi mốt gian phòng và mở bốn mươi mốt cái hộp. Khi nhìn thấy miếng đồng sáng loáng mặt anh rạng rỡ vì sung sướng. "Ta sẽ đổi miếng sắt vào đây! Dù sao cũng không ai biết được!"
Anh ta thực hiện điều vừa nghĩ, nhưng việc làm đó khiến anh lo lắng. Để cố tỏ lòng trung thành không tiếc sức lực và sinh mạng để gìn giữ báu vật, anh bắt đầu thề nguyện mỗi ngày một lần. 
Một thời gian sau trong dân chúng có người tuyên bố:
-Đã nhiều năm qua chúng ta thề nguyện không tiếc sức, tiếc sinh mạng để gìn giữ báu vật do tổ tiên để lại. Và quả thực chúng ta đã gìn giữ rất cẩn thận vật báu đó trong kho. Nhưng liệu có ai biết báu vật đó là vật gì không? Tại sao chúng ta không thử mở xem? Nào chúng ta hãy cùng vào kho báu mở cái hộp ra xem vật báu đó là vật gì mà chúng ta phải gìn giữ cẩn thận như thế?
Những lời nói của ông ta như tiếng sét giữa trời. Tất cả những người đã đánh tráo báu vật, đứng đầu là quốc vương, đều nhảy xổ vào đám người đã dám có thái độ xấc xược đó. Mỗi người đánh tráo báu vật đều nghĩ chỉ mình làm việc đánh tráo. Không ai biết gì về hành động của những người khác, mọi người đều run lên vị sợ bị vạch trần.
Họ càng hung hăng hơn lao vào con người dám xáo động sự yên tĩnh và buộc anh ta là đã có ý muốn xúc phạm vật linh thiêng.
- Chà đồ vô lại! Anh có công lao gì mà dám đòi xem vật thiêng của tổ tiên để lại?
Sau khi thuyết phục dân chúng rằng hắn là một tên tội phạm, mọi người đã xông vào con người này. Chỉ chút nữa là hắn bị giết. Nhưng lúc ấy quốc vương nói:
- Nếu giết hắn thì phải giết cho đúng luật. -Ngài nói.
Vậy là người ta thảo ra một sắc lệnh. Sau đó đã hành hình kẻ có tội.
Nhưng không dễ gì bắt mọi người quên đi những lời anh ta nói. Những lời đó cứ truyền đi từ miệng người này sang miệng người khác và tan đi như hòn tuyết.
Rồi một hôm có một người nữa cũng nảy ra ý định muốn xem báu vật mà người ta canh gác cẩn mật ấy là vật gì. Nhưng biết rằng việc làm đó sẽ nguy hiểm đến tính mệnh nên anh ta không nói cho ai biết ý định của mình và một mình lẻn vào kho báu. Nhưng quốc vương, thừa tướng và các vị đại thần cùng những người đánh tráo vật báu luôn luôn lo sợ sẽ có kẻ phát hiện ra sự lừa đảo của mình nên ganh đua nhau canh gác vật báu, hay chính xác hơn là cái vật đã bị mình đánh tráo. Vì thế khi con người kia lẻn vào trong kho báu thì đã rơi ngay vào tay của họ. Người ta tóm được người này đúng lúc anh ta đã lấy được báu vật và đang định giơ ra cho dân chúng xem. Nhưng than ôi, trong tay anh ta chỉ là miếng sát gỉ đã được ai đó thay vào chỗ vật báu.
-Nhưng vật báu đó không phải là vật này! - Nhìn thấy mảnh sắt gỉ viên coi kho kêu lên.
- Không phải vật này! - Thừa tướng thốt lên
- Không phải vật này! - Viên đại thần kêu.
- Không phải vật này! - Tất cả mọi người đứng đầu là quốc vương đều kêu to.
Khi đó người đang cầm miếng sắt gỉ mới nói:
- Tại sao các vị biết đó không phải là vật báu? Nghĩa là các vị đã nhìn thấy vật báu thật rồi à?
Không ai trong số những người vừa kêu trả lời được câu nào. Mỗi người đều hiểu rằng cái vật mà họ đặt vào chỗ vật báu đã bị tên trộm sau đó đánh tráo. Sau khi nhanh chóng thủ tiêu con người bị bắt giữ, họ đem miếng sắt gỉ đặt lại vào trong hộp thiêng. Sau đó lần lượt nhét tất cả các hộp vào nhau rồi bỏ đi, khóa chặt cửa bốn mươi mốt căn phòng. Nhưng vì trong lòng họ vẫn thấy không yên tâm nên họ ban sắc lệnh mới về bảo vệ vật báu. Theo lệnh này toàn dân có nghĩa vụ phải thề nguyện trung thành báu vật một ngày ba lần sáng, trưa, chiều.
Dân chúng nghiêm chỉnh chấp hành lệnh. Và không ai trong số những người ngoan ngoãn thề nguyện ấy (không bao giờ )biết được cái vật báu mà họ hết sức trung thành bảo vệ ấy chỉ là miếng sắt gỉ.

Hỡi các con, hãy khôn lớn thành người! Aziz Nesin

Hỡi các con, hãy khôn lớn thành người! (Người dịch : Nguyễn Chí Được: Azit Nêxin Giải sầu chủ nhật NXB văn hóa thông tin)
Một hôm kiến mẹ và kiến bố gọi các con lại để giảng giải vềđạo lý của loài kiến. Kiến bố kết thúc buổi giảng bằng những câu:
Hỡi các con! Các con hãy ra sức phấn đấu trong cuộc sống đểtrở thành những con kiến! Muốn thế không bao giờ các con được vi phạm cácnguyên tắc của loài kiến chúng ta.
Các chú kiến con nhao nhao hỏi:
Thưa bố, làm thế nào để trở thành con kiến chân chính? Vàlàm thế nào để xứng đáng với danh hiệu cao quý này?
Các con sẽ theo gương bố mẹ. Bố mẹ sống và làm việc thế nàothì các con cứ làm như thế. Kiến bố trả lời.
Thế là những chú kiến con bắt đầu làm việc như bố mẹ chúngvẫn làm hàng ngày. Ngay từ mùa hè chúng cùng bố mẹ đi tha cỏ, lá về giấu dướiđất. Mùa đông thì chúng nghỉ đông trong tổ. Và khi trưởng thành thì chúng đểtrứng, sinh con.
Hôm ấy bố mẹ kiến lại gọi các con về quây quần xung quanhmình.
Hỡi các con! Kiến bố nói với các con. Bố sắp từ giã cõi đờinày. Trước khi ra đi, bố muốn nói với các con rằng: bố rất hài lòng về tất cảcác con. Các con đã trở thành những con kiến chân chính, không ai phản bội lạicác nguyên tắc của loài kiến.
Bố mẹ sẽ luôn luôn cầu phúc cho các con!
Cầu đức Alaphù hộ độ trì cho các con!

Cá bố và mẹ gọi các con đến để giảng bài về cuộc sống củaloài cá. Cá bố kết thúc bài học bằng lời giáo huấn.
Hỡi các con! Các con hãy cố gắng trong cuộc sống để trởthành những con cá chân chính. Muốn thế các con phải giữ vững các nguyên tắccủa loài cá.
Lúc bấy giờ bọn cá con nhao nhao hỏi:
Thưa bố, chúng con phải làm thế nào để trở thành những concá chân chính và giữ vững danh hiệu đó?
Cá bố trả lời:        
-Các con sẽ theo gương bố mẹ. Những việc mà bố mẹ các conlàm bao giờ cũng đúng. Các con chỉ việc theo đó mà làm.
Thế là bọn cá con bắt đầu quan sátchăm chú mọi việc bố mẹ chúng làm. Chúng cũng bơi lội tung tăng trong biển, gặpbọn cá bé hơn nếu nuốt được là nuốt liền và khi gặp bọn cá lớn hơn cũng đànhcho cho chúng nuốt, khi trưởng thành chúng đẻ trứng sinh con.
Thời gian cứ thế trôi qua. Một ngày kia cá bố và cá mẹ tậptrung các con lại.
Hỡi các con! – Cá bố nói – Giờ các con đã khôn lớn. Bố mẹ cóthể thanh thản ra đi. Tất cả các con đã trở thành những con cá chân chính.Không ai phản bội lại các nguyên tắc của loài cá. Công sức của bố mẹ bỏ rakhông uổng phí. Bố mẹ luôn cầu chúc cho các con hạnh phúc. Xin đức Ala phù hộ độ trì chocác con!

Chó bố và chó mẹ gọi các con lại để giảng giải về lẽ sốngcủa loài chó. Chó bố kết thúc buổi giáo huấn bằng những lời:
- Hỡi các con! Điều chính yếu nhất của các con là phải phấnđấu để trở thành những con chó chân chính. Muốn thế các con phải trung thànhvới các nguyên tắc của loài chó.
Lúc bấy giờ đàn chó con liền hỏi:
Thưa bố, phải làm gì để trở thành những con chó chân chínhvà xứng đáng với danh hiệu cao quý của loài chó.
Điều này rất dễ, chó bố trả lời. – Các con sẽ theo gương bốmẹ. Hành động của bố mẹ là mẫu mực để các con nhìn vào mà học tập.
Các chú chó con bắt đầu quan sát mọi hành động của của bố mẹvà anh chị lớn hơn. Họ làm thế nào thì lũ chó con làm theo thế ấy. Bố mẹ sủathì các con cũng sủa theo. Bố mẹ canh gác, trông nom nhà cửa, các con đều làmtheo. Bố mẹ tỏ ra trung thành với chủ, các con khi có chủ riêng cũng cư xử nhưvậy. Rồi đàn chó lớn lên, tìm đôi kết bạn, sinh sôi nảy nở, tiếp tục duy trìnòi giống.
Một ngày kia bố mẹ chó lại tập trung các con quanh mình vànói:
Hỡi các con! – Chó bố nói – Giờ các con đã khôn lớn trưởngthành. Còn bố mẹ thì đã đến cõi. Trước khi ra đi, bố muốn nói với các con rằng,bố mẹ rất hài lòng về các con. Các con đã không rời xa nguyên tắc của nhà chó.Công sức bố mẹ bỏ ra không uổng phí. Bố mẹ luôn cầu chúc cho các con hạnh phúc!Cầu mong đức Alaphù hộ độ trì cho con con!

Không chỉ có thế, các loài bò, trâu, cá voi, lạc đà, voi,rắn rết… tất cả bố mẹ chúng đều nói với con cái rằng, phận làm con phải cố gắngphấn đấu sống như bố mẹ mình đã sống, và làm theo những gì bố mẹ mình đã làm.
Con cái tất cả loài vật đã đi theo con đường mà mà bố mẹchúng đã đi, nên cuối cùng đã trở thành những con vật tốt. Chính vì thế mà bố mẹchúng khi ra đi vĩnh viễn đều mãn nguyện vô cùng. Vì họ biết rằng đã để lại cáiphúc cái đức cho các con.

Bố con người và mẹ con người tập hợp các con lại để giảnggiải về đạo lý làm người. Kết thúc bài giảng, ông bố con người nói:
Hỡi các con! Các con cố mà phấn đấu thành con người. Khôngbao giờ được từ bỏ các nguyên tắc của loài người.
Các con liền hỏi lại:
Thưa bố, vậy chúng con phải làm gì để trở thành con người vàxứng đáng với danh hiệu vẻ vang đó?
Điều đó rất dễ, - bố con người trả lời, - các con hãy theogương bố mẹ
Bố mẹ làm gì các con hãy làm như thế.
Các con bắt đầu quan sát bố mẹ, làm đúng những gì mà bố mẹchúng đã làm. Chúng lớn lên giống hệt bố mẹ chúng.
Biết mình sắp từ giã cõi đời, bố mẹ con người gọi các conlại. Ông bố con người buồn rầu thốt lên:
Thật đáng tiếc! Không một ai trong số các con xứng đáng vớidanh hiệu cao quý Con người. Các con đã rời xa các nguyên tắc của loài người.Bố mẹ thì sắp qua đời, giờ mới nhận ra công sức của mình bỏ ra thật uổng côngvô ích. Các con đền đáp tình yêu và sự chăm sóc của bố mẹ bằng nỗi đau khổ êchề. Các con thật đáng nguyền rủa!
Vì sao bố mẹ lại mắng nhiếc chúng con như vậy? – Những đứacon tỏ ra ngạc nhiên. – Chúng con có làm gì khác bố mẹ đâu. Chúng con luôn theogương bố mẹ, và chỉ làm những gì bố mẹ đã làm. 

Chú lừa nhận huy chương (Aziz Nesin)

Chú lừa nhận huy chương (Azit Nêxin Giải sầu chủ nhật. Người dịch : Nguyễn Chí Được Nxb văn hóa thông tin)
Ngày xửa ngày xưa có một đất nước nọ có một ông vua trị vì.Cả nước phát triển rực rỡ như khu vườn mùa xuân được ánh nắng dân chủ ấm áp chiếu rọi giúp cho hàng ngàn hàng vạn loại cây tự do sinh sôi phát triển trên mặt đất. Người dân không biết đói khổ làm gì.
Nhưng bỗng một tai họa khủng khiếp xảy ra ở đất nước này. Cảnước bị nạn đói hoành hành dữ dội đến mức không bút nào tả xiết, không lời nàonói đủ. Kể cả những nhà trước kia giàu có nhất cũng không có gì mà ăn.
Trước cảnh đói khổ của dân chúng, nhà vua động lòng suynghĩ. Ông suy nghĩ, suy nghĩ mãi cuối cùng tìm ra được cách giải quyết. Nhà vuacho mõ đi ra khắp các hang cùng ngõ hẻm, để tất cả người dân biết chiếu chỉ mớicủa nhà vua: bất kì ai dù ít dù nhiều, có công đóng góp cho quốc gia, làm đượcviệc gì đó có ích cho tổ quốc đều được tặng thưởng huy chương.
Dân chúng nghe tin này liền quên hết đói rét, khổ đau buồnthảm, nợ nần, chi phí, chỉ nóng lòng mong chóng nhận được huy chương. Tùy vàocông lao của từng người mà nhà vua phát cho các loại huy chương khác nhau.
Huy chương hạng nhất là huy chương vàng. Loại hai là huychương mạ vàng. Loại ba là huy chương bạc. Loại bốn là huy chương sắt. Loại nămlà huy chương thiếc. Loại sáu là huy chương kẽm. Loại bảy là huy chương sắttây… Tóm lại ai đã đến cung điện nhà vua đều được phát huy chương cả. Chẳng baolâu trong nước không còn lấy một mẩu kim loại nào. Trong khi đó trên ngực áo aicũng lủng lẳng những huy chương là huy chương, trông giống như những vòngchuông, vòng cườm trên cổ loài la.
Một con bò cái thấy mọi người ai cũng đeo huy chương và nghenói rằng hễ ai đến xin, nhà vua đều ban phát cho huy chương cả, nó liền tự bảo:“ Thế thì ta kém gì mà không đến đầu tiên để nhận huy chương”.
Thế là chị bò người chỉ còn da bọc xương, hai hàng vú nhănnhúm thõng thẹo, bụng thót lên tận sống lưng, bước thấp bước cao, dò dẫm lêntriều đình.
Đến nơi bò ta nói với người gác cổng:
-Nhờ ông tâu với nhà vua có bò tôi xin được yết kiến.
Lính canh thấy sự lạ, liền tìm cách đuổi chị bò đi. Nhưngchị ta không phải tay vừa, be ầm lên:
-Nếu không được gặp nhà vua, tôi sẽ không rời nửa bước khỏicánh cổng này.
Lính canh đành phải vào tâu vua:
-Tâu bệ han, có một ả bò cái xin được yết kiến.
-Cho ả ta vào, - nhà vua nói.
-Nào, nhà ngươi hãy be lên ta nghe xem có chuyện gì? – Nhàvua bảo.
-Tâu bệ hạ - chị bò cái nói, - thần được biết là bệ hạ banphát huy chương, thần cũng muốn được một chiếc.
-Nhà ngươi có quyền chi, có đóng góp gì cho đất nước mà đòinhận huy chương? – Nhà vua giận dữ quát to.
-Thưa đức đại chí tôn! - Ả bò cái mở đầu. – Loài bò chúngtôi không được ban phát huy chương thì vua ban phát cho ai? Thịt của chúng tôiai ăn, sữa chúng tôi ai uống, da chúng tôi ai đi trên chân. Thậm chí cả nhữngthứ chúng tôi thải ra cũng được dùng vào việc. Phải chăng như thế chưa đủ đểnhà vua ban cho chúng tôi tấm huy chương, dù đó là huy chương sắt tây?
Nghe chị bò cái phân trần, nhà vua thấy có lý.Ông bèn ra lệnh ban cho chị tấm huy chương loại ba. Chị bò mặt tươi như hoa, với tấm huychương đeo lủng lẳng trước cổ tấp tễnh trở về nhà. Trên đường chị gặp chú la.
-Xin chào chị bò!
-Xin chào chú la!
-Chị đi đâu về mà tươi tỉnh vui vẻ thế?
Chị bò cái liền kể lại mọi chuyện. Khi chị kể đến đoạn mìnhđược tặng huy chương thì chú la chưa kịp nghe hết chuyện đã vội vã ba chân bốncẳng chạy thẳng đến cung vua.
-Tôi muốn được yết kiến nhà vua! – Chú la trịnh trọng tuyênbố.
-Không được, -lính canh trả lời chú la.
Tuy nhiên chú la vốn được thừa hưởng tính ngang bướng của cụkỵ tổ tiên mình nên đâu có dễ thoái lui. Chú cứ đứng đấy hết van vỉ lại lấychân cấu vào cánh cổng cung điện mà xin vào. Thấy thế lính canh đành phải vàotâu vua.
-Thôi được, hãy cho chú la – kẻ nô lệ trung thành của ta vàoyết kiến! – Nhà vua ra lệnh.
Chú quỳ sụp xuống, vái lạy nhà vua, kính cẩn hôn tấm longbào trên người vua, rồi mới từ tốn xin được ban huy chương.
-Vì lý do gì mà nhà ngươi xin nhận huy chương.
-Ôi muôn tâu bệ hạ, phải chăng loài la chúng conít đóng gópcho tổ quốc? Trong thời gian chiến tranh không phải chúng con đã từng cõng trênlưng súng ống đạn dược ra mặt trận cho quân đội thì ai làm việc này? Trong thờibình không phải chúng con thì ai mang trên lưng mình các bà hoàng hậu, cáchoàng tử, các công chúa của nhà vua đi thăm thú mọi nơi? Không có loài la chúngcon có hỏng hết mọi việc!
Nhà vua cho rằng nguyện vọng của chú la là chính đáng và banlệnh:
-Hãy cấp cho chú la tấm huy chương hạng nhất!
Chú la sướng phá điên lên được, đang chạy vội về nhà để khoevới mọi người thì gặp bác lừa trên đường.
-Chào cháu la! – Bác lừa chào trước.
-Cháu chào bác lừa!- Chú la đáp.
-Cháu đi đâu về đấy?
Nghe xong câu chuyện chú la kể lại, bác lừa liền nói:
-Thế thì ta cũng phải đi gặp nhà vua để xin cấp huy chương!
Nói đoạn, bác lừa liền đến cung điện nhà vua. Lúc đầu línhcanh một mực không cho bác vào, nhưng sau mới nhớ ra rằng loài lừa vốn không dễbảo, chịu đựng rất giỏi, nên đành phải vào tâu với nhà vua.
-Có một chú lừa tự xưng là công bộc trung thành của nhà vuaxin được yết kiến.
-Nhà ngươi muốn gì? Hỡi chú lừa công bộc của ta kia? – Nhà vuahỏi bác lừa.
Bác lừa trình bày nguyện vọng của mình với nhà vua. Chưanghe hết, nhà vua đã hết sức giận dữ quát to:
-Loài bò cung cấp thịt, sữa, da và phân cho cả nước. Loài latrong thời chiến cũng như trong thời bình, lúc nào cũng mang vác hàng hóa, chởngười trên lưng nặng nhọc vất vả, vì thế họ xứng đáng được tặng thưởng, tônvinh. Còn giống lừa nhà anh, thử hỏi đã làm được việc gì mà dám đòi cấp huychương. Nhà anh liệu có gì đáng ca ngợi?
Đợi nhà vua nói xong, bác lừa cười một cách độc ác rồi nói:
-Tâu bệ hạ, giống lừa là những công bộc trung thành nhất củabệ hạ, có phần đóng góp lớn lao nhất trong mọi việc của quốc gia. Nếu như khôngcó hàng ngàn, hàng vạn những công bộc xuất thân từ giống lừa ưa nặng như conđây thì ngai vàng của bệ hạ liệu có còn giữ nổi không? Và bệ hạ có còn trị vìđược nữa không? Ơn trời, bệ hạ còn có giống lừa chúng con nên mới giữ yên đượcsơn hà xã tắc đó.
Nhà vua hiểu rằng con lừa này cũng như toàn bộ số lừa cònlại không xứng đáng được nhận huy chương sắt tây.
- Ôi chú lừa công bộc trung thành của ta, - nhà vua nói, -ta không có loại huy chương phù hợp tặng thưởng cho chú vì sự đóng góp cao cảcủa chú. Thay vào đó, từ nay đến khi chú qua đời, mỗi ngày chú được hưởng mộtbao cỏ từ chuồng ngựa của quốc gia. Hàng ngày chú hãy ăn số cỏ đó và đừng quênluôn luôn ca ngợi sự trị vì vủa ta.

Tội đồ bất đắc dĩ

Tội đồ bất đắc dĩ Aziz Nesin trích Tại sao tờ báo bị đóng cửa Thái Hà dịch NXB Lao Động
Chiếc xe buýt chật níc người. Nhưng giữa đám người chen chúc ấy vẫn nổi bật lên một vị khách mà thoáng trông cũng biết đi nhầm xe. Chỗ của ông ta lẽ ra phải là ở trong xe cấp cứu mới phải. Vì tay trái ông bị buộc treo lên vai bằng một sợi dây vải trắng. Đầu băng bó chằng chịt, một mắt sưng húp lên, còn mắt kia thì thâm tím xung quanh. Một tay bám lấy thanh vịnh, ông khách vừa cố xoay xở tìm chỗ đứng cho thuận tiện, vừa rên rỉ luôn miệng. Thấy vậy, một hành khách đang ngồi tỏ ra thương hại, đứng dậy nhường chỗ cho ông ta.
- Cảm ơn ông! - Ông khách mình đầy thương tích rên rỉ.
- Ủa bác Xenman đấy à? Thế mà tôi không nhận ra! - Người khách vừa đứng dậy nhường chỗ kêu lên. - Bác bị sao thế này? Đứa nào đánh bác hay sao mà mặt mày thâm tím hết cả lên thế kia?
- Bác Xaraphettin đấy à? Chào bác! Chà, bác hỏi làm gì cho thêm buồn... Cái thân hình tôi thế này đã ba tháng nay rồi...
- Rõ khổ! Thế nhưng bác làm sao vậy
- Lạy thánh Ala! Xin người thương xót con! Con hoàn toàn kiệt sức mất rồi...
- Thế các "đốc tờ" bảo thế nào ạ? Bác bị bệnh gì vậy?
- Ối dào! Đốc tờ mà làm quoái gì! Đốc tờ cũng chả chữa được bệnh của tôi... Lạy thánh Ala! Sao người lại bắt con chịu đựng cái cực hình thế này! Mà lại không bắt kẻ thù của con phải chịu!... Ôi, khắp người tôi đau như dần, đến chân tay cũng không cử động nổi nữa.
- Nhưng dù sao bác cũng phải đi bệnh viện cho đốc tờ họ khám xem thế nào chứ?
- Bệnh viện gì! Đến nhà thương điên thì có! Chẳng dấu gì bác, tôi bị mắc một bệnh truyền nhiễm...
Nghe nói thế, Xaraphettin bỗng lùi hẳn người lại.
- Chết! Thế sao bác còn đi ra phố làm gì?
- Chao ôi, nói thì dễ đấy, nhưng nào có ngồi nhà được cho cam! Tôi bị lây cái bệnh của thằng con tôi mất rồi...
- Thế cậu nhà cũng bị à?
- Nó còn bị nặng bằng mấy lần tôi ấy chứ! Bệnh của nó đã thành mãn tính rồi. Tôi bây giờ cũng vậy. Có mỗi cái trường phổ thông mà nó không sao tốt nghiệp được! Năm nó lớp chí đã bị đúp, lên lớp mười cũng lại thế nốt! Mà cũng chỉ tại trò bóng bánh chết tiệt! Đã bao nhiêu lần tôi van lạy nó rằng: "Mày quăng ngay cái trò bóng bánh khốn nạn ấy đi cho tao!" Nhưng nó lại trả lời tôi: "Con không quăng được". Nó hủy hoại cái thân xác nó thật là ghê gớm. Đến nỗi tôi với mẹ nó không còn nghĩ đến chuyện mong nó học giỏi nữa, mà chỉ lo làm sao cứu vãn lấy tính mạng của nó mà thôi! Mỗi lần nó đi đá bóng về trông nó cứ như vừa đi đánh giặc vậy! Đội ơn thánh Ala! Bây giờ nó bị gãy chân trái rồi, nên không đá bóng được nữa.
Thấy nó bị gãy chân, tôi sung sướng quá, vì không thế thì thể nào cũng có ngày nó bị người ta đánh chết. Ôi, xin Đức Ala hãy tha thứ cho chúng con! Tôi và mẹ nó thường bảo: "Thôi cho nó gãy chân cũng được! Chỉ cốt sao nó thoát khỏi cái bệnh truyền nhiễm ấy mà còn sống là may rồi!". Nhưng từ khi bị gãy chân, nó lại quay sang mê xem bóng đá quá thể. Hôm nào có bóng đá thì có trời giữ được nó ở nhà! Đá ở đâu nó cũng mò đi xem cho bằng được. Đá ở Ankara thì nó nhảy đi Ankara, đá ở Izơmia nó tếch đi Izơmia! Nhưng cái chuyện nó cứ đi đi về về như con thoi ấy cũng chưa hẳn là nhục! Nhục nhất là mỗi lần đi về trông nó lại phờ phạc không còn ra hồn người nữa! Chân đứng không vững, giọng nói thì khản đặc lại. Có đến hàng bao nhiêu lần tôi bảo nó đứng có la hét như điên ấy cho khản tiếng ra. Nhưng nó bảo tôi: "Bố chỉ có ngồi nhà mà nói! Bố cứ thử ra sân mà không hét xem nào...". Có hôm nó đi xem về thế nào mà đầu vỡ toác ra, còn hôm khác thì mũi bị dập nát và mắt thì sưng húp lên. Giá bảo nó mà còn đá bóng như hồi xưa mà bị như thế thì còn hiểu được, chứ đằng này nó chỉ xem người ta đá thôi cơ mà... Nhưng nó lại cãi: "Ai đi xem mà chẳng phải đánh nhau! Bố cứ thử đi ra đấy mà ngồi im xem nào". Có lần chúng tôi phải đến bốt cảnh sát để nhận nó về. Những người đi xem bóng đá đánh nhau dữ quá, cảnh sát phải giải tất cả về bốt. Có đến hai lần chúng tôi phải khiêng nó từ xe cấp cứu xuống. 
"Trời ơi! Sao con không thương xót cái thân con một chút, mà lại đi hủy hoại nó thế hả con". Tôi nó với nó như vậy. Nhưng nó bảo rằng tuy cũng biết thế, nhưng nó không làm thế nào được! Nghe nó trả lời như vậy mà tôi thấy điên tiết! Tôi bảo nó: "Thôi được! Hôm nào mày dẫn tao đi với mày để tao xem cái trò bóng bánh của mày nó như thế nào?".
Và thế là tôi đi với nó đến sân vận động Mitkhatpasa.
Trận đấu bắt đầu. Đương nhiên, ban đầu tôi chưa cổ vũ cho đội nào cả. Đội nào thắng hay thua đối với tôi cũng thế cả thôi. Tôi cứ ngồi quan sát khán gỉa và cười một mình.Bất ngờ có một quả sút vào lưới y như một mũi tên. Cú sút thật tuyệt vời! Chính mắt tôi được nhìn thấy! Nhưng lão trọng tài ăn gian không cho tính điểm. Tôi tức không chịu được. Thấy mọi người "ê" trọng tài,tôi cũng bắt chước "ê!..ê!" rõ to. Bỗng tôi nghe thấy có ai bảo trọng tài không cho ăn quả ấy là đúng. "Không đúng! - Tôi cãi lại. - Quả sút ấy rất đẹp! Nhưng trọng tài ăn gian! Đúng là lão ta ăn đút lót rồi". Gã kia bảo tôi: "Đồ con lợn! Mày có biết có những cú sút như thế nào không hả?" Tôi bảo hắn rằng có hắn là: "đồ con lợn" thì có! Vì mới đi xem lần đầu nên tôi đâu biết tính tình của cái dân ham mê bóng đá. Thế là chưa kịp nói hết câu, tôi bị hắn thoi cho một quả như trời giáng, ngã quay ra đất. May mà có những người ngồi bên cạnh can được, chứ không thì tôi đã  bị no đòn với thằng cha ấy rồi! Còn ông con tôi thấy tôi bị đánh cũng chả thèm để ý gì cả, cứ mải xem và luôn mồm kêu: " Xem kìa! Sắp tung lưới nữa đây này!"
Kể từ lúc đó, cái đội mà tôi bị ăn đòn vì nó bỗng trở thành cái đội tôi yêu mến. Bây giờ, mỗi khi bóng đến chân các cầu thủ đội này là tôi không ngồi im được nữa. Tay tôi bắt đầu vung lên, như chuẩn bị đánh nhau vậy. Còn chân thì đá lung tung. Giá lúc này bóng mà rơi vào chân tôi, thì có lẽ tôi phải bắn đá lên tít mặt trăng chứ chả chơi! Vung vẩy chân thế nào mà tôi đá bốp một cái vào lưng cái ông ngồi trước: "Ấy chết, xin lỗi bác". Tôi vội nói, nhưng ông ta đáp lại với cái giọng của người hiểu biết: "Không hề gì! Chuyện ấy là thường!". Một lúc sau thì chính tôi lại bị một cú đá vào lưng nẩy đom đóm mắt. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng ở trên sân vận động thì không cái gì là không thể xảy ra!
Những cú đấm, cú đá, cú huých từ bốn phía cứ thỉnh thoảng lại giáng vào đầu, vào lưng. Nhưng cũng chẳng ai thèm để ý đến làm gì! Ấy là lúc mọi người đã ham xem quá mất rồi! Bóng ở tít tận ngoài sân cỏ, mà mình ngồi đây, cứ anh bên cạnh mà sút thật lực. Mà lạ một cái, lúc ấy chẳng ai thấy đau cả.
Sau đó... bác Xaraphettin ạ, đội của tôi lại sút tung lưới một quả nữa, nhưng thằng cha trọng tài lại không cho ăn. Lần này thì tôi không nhịn được nữa. "Đuổi cổ trọng tài ra sân!" Tôi gào lên như diên, không còn biết gì đến xung quanh nữa! Chân tay tôi run cả lên. Bên cạnh tôi là một ông bán nước chanh. Tôi cứ vớ lấy những cái chai nước của ông ta mà ném vào lão trọng tài. May mà đó là những chai nước chanh, chứ không phải là lựu đạn!... Chẳng ai còn buồn nhìn ra sân cỏ nữa, mọi người quay sang choảng nhau loạn xạ. Tôi túm cổ được một thằng bé và cứ thế bóp làm nó suýt nghẹn thở. Thật đúng là vô tình mình có thể trở thành kẻ giết người là vì thế. Khốn nạn cho thằng bé, nó cứ gào lên, bảo rằng cũng ủng hộ cái đội của tôi. Tôi vừa buông nó ra thì có một thằng cao lêu đêu bỗng vật ngửa tôi ra mà đè lấy đè để. Tôi kêu to gọi thằng con tôi, nhưng cái thằng giời đánh còn đang mải nện nhau với trọng tài ở trên sân. Tôi gọi cảnh sát, nhưng cảnh sát cũng đang đấm đá nhau túi bụi. Thôi được, để tôi hỏi cái thằng cha đang đè lên người tôi xem hắng cổ vũ đội nào. Té ra hắn cũng cổ vũ cho đội của tôi! Phải khó khăn lắm tôi mới thoát ra khỏi đôi chân gọng kìm của hắn, vì hắn ghì tôi chặt quá, sợ để tôi thoát ra thì không tìm được ai để đánh.
Mãi một lúc sau, mọi người mới trở về trật tự, và trận đấu mới lại được tiếp tục. Để cổ vũ các cầu thủ, bây giờ, bắt chước mọi người, tôi cũng bắt đầu hét to: " H-o-a-n h-ô! H-o-a-n h-ô!" Hét được một lúc thì giọng tôi khản đặc. Tôi bèn quay sang gõ vào cái thùng sắt tây của ông ngồi đằng trước. Ông này mang cái thùng đi cũng là để cổ vũ các cầu thủ. Nhưng đến khi hai cầu thủ trên sân bỗng xông vào nhau đấm đá túi bụi, thì cảnh tượng mới thật hỗn loạn. Tôi bị một thằng cha nào đó tung bổng lên cao Thú thật, chưa bao giờ tôi nghĩ mình có thẻ bay cao đến thế! Sau đó... sau đó thế nào thì tôi cũng không biết gì nữa. Chỉ biết lúc tỉnh lại thì đã thấy mình đang nằm trong nhà thương.
- Thế là suốt từ hôm đó tới giờ bác vẫn chưa bình phục?
-Xaraphettin hỏi.
-Vầng, vì đến chủ nhật sau tôi lại đến sân vận động. Chả là đội của tôi chơi mà! Làm sao mà ngồi nhà được! Nói thì dễ đấy, nhưng hôm ấy cứ thử ngồi nhà xem có được không? Có mà lấy dây thừng trói chân anh lại, thì anh vẫn cứ chuồn đi được! Ôi, sao mà người tôi đau thế này!...
Bỗng từ cánh tay băng bó của Xenman có một vật gì rơi ra.
À cái hộp sắt tây ấy mà! Để tôi gõ vào nó khi nào không thể gào được nữa. - Xenman cắt nghĩa cho tôi, khi tôi nhặt chiếc hộp đưa cho bác ta.
Xe dừng lại. Xenman đứng dậy, rên rỉ nói:
-Thôi chào bác,bác Xaraphettin!
-Không dám, chào bác. Bây giờ bác đến khám đốc tờ chớ?
-Ấy chết! Trận hôm nay bỏ thế nào được! Chà! Lạy chúa! Chỉ mong sao cho con đừng đến muộn.